Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HUY ĐỘNG VỐN TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Cơ sở lý luận huy động vốn từ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.Khái niệm ngân hàng thương mại Hiện nay, tuy khái niệm về ngân hàng thương mại (sau đây gọi là ngân hàng hoặc NHTM) ở mỗi quốc gia có đặc điểm khác nhau nhưng đều thống nhất coi NHTM là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong những tổ chức tài chính trung gian có nhiệm vụ dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam ban hành năm 2015 (Quốc hội, 2015) đã định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”[4]. Theo đó: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”[4].Chức năng của ngân hàng thương mại Các chức năng của NHTM có thể được nêu ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay.
Thông qua việc huy động các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cấp tín dụng cho nền kinh tế. Qua đó, NHTM hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch download by : skknchat@gmail.com 6 giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay. Chức năng trung gian thanh toán được thực hiện trên cơ sở chức năng trung gian tín dụng. NHTM làm thủ quỹ cho khách hàng thông qua việc mở tài khoản thanh toán, nhận tiền gửi, đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi trả theo yêu cầu của khách hàng.
Đối với NHTM chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng [2]. Chức năng tạo tiền là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động ngân hàng. Từ một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của ngân hàng thì lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần, gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng [2].
Vai trò của ngân hàng thương mại Với chức năng của mình, NHTM giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau: Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Bằng vốn huy động được trong xã hội, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM đã cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời cho quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm cho xã hội. Thứ hai, NHTM là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với các doanh nghiệp. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn về khả năng tài chính, tạo cho doanh nghiệp có đủ khả năng thỏa mãn tối đa nhu cầu của thị trường trên mọi phương diện: giá cả, chủng loại, khách hàng… Thứ ba, NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Hoạt động ngân hàng góp phần chống lạm phát. Khi xảy ra lạm phát, ngân hàng trung ương sẽ tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu…để thông qua NHTM thay đổi lượng tiền trong lưu thông, ổn định sức mua của download by : skknchat@gmail.com 7 đồng tiền. Hoạt động của NHTM cũng giúp Chính phủ thực thi các chính sách tiền tệ, kích thích sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Thứ tư, NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
Hệ thống NHTM có khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ đầu tư nước ngoài vào trong nước theo các hình thức: thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái… giúp cho luồng vốn ra, vào một cách hợp lý, đưa nền tài chính nước nhà bắt kịp, hội nhập với nền tài chính quốc tế. Đây là một trong những điều kiện kiên quyết cho tiến trình hội nhập kinh tế ở các quốc gia trên thế giới [7]. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về huy động vốn NHTM muốn hoạt động được phải có vốn, nhưng vì hàng hóa mà các ngân hàng kinh doanh là hàng hóa đặc biệt đó chính là tiền nên buộc các nhà đầu tư phải tìm cách mua bán vốn trên thị trường tài chính, thông qua thị trường vốn được chu chuyển rộng rãi và thể hiện được vai trò và bản chất của mình.
Nó chi phối toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Vốn kinh doanh của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn tự có, vốn huy động, vốn trong thanh toán, vốn ủy thác… Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ tiền nhàn rỗi của tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn từ nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng và vay vốn của NHNN làm nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình [7]. Vai trò của huy động vốn trong hoạt động ngân hàng Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tố đầu vào thường download by : skknchat@gmail.com 8 xuyên, chủ yếu nhất. Nếu vốn chủ sở hữu là điều kiện kiên quyết để ngân hàng được phép hoạt động thì vốn huy động sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này. Chính vì vậy, vai trò của nghiệp vụ huy động vốn là rất quan trọng: Một là, huy động vốn ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn không mang lại lợi nhuận trực tiếp nhưng nó sẽ góp phần quyết định quy mô cũng như định hướng hoạt động của ngân hàng. Trong hoạt động sử dụng vốn, các ngân hàng có lượng vốn dồi dào sẽ có ưu thế trong việc tài trợ các hợp đồng lớn và dài hạn không chỉ trong lĩnh vực cho vay và đầu tư mà còn trong các lĩnh vực khác như bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, bảo hiểm.Đặc biệt trong điều kiện khoa học kĩ thuật và công nghệ ngân hàng phát triển như hiện nay, nguồn vốn lớn sẽ giúp ngân hàng triển khai ứng dụng mới ưu việt hơn nhằm nâng cấp và mở rộng hoạt động kinh doanh của mình.
Như vậy, một ngân hàng muốn đạt lợi nhuận tốt phải biết kết hợp hài hòa giữa các nguồn vốn huy động và vốn sử dụng theo một cơ cấu hợp lý và ổn định [3]. Hai là, huy động vốn ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng tín dụng của ngân hàng. Chất lượng và tính ổn định của huy động vốn có ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay và đầu tư. Thông thường, so với các ngân hàng có nguồn vốn lớn thì các ngân hàng có nguồn vốn nhỏ có phạm vi hoạt động giới hạn hơn, khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay nhỏ hơn.
Cơ cấu của nguồn vốn huy động cũng ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay của ngân hàng. Đôi khi NHTM có thể dùng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung dài hạn nhưng không thể vượt quá một tỷ lệ nhất định. Các ngân hàng nếu huy động được một tỷ trọng lớn vốn trung dài hạn thì có thể mở rộng nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn. download by : skknchat@gmail.com 9 Ba là, huy động vốn tạo cho ngân hàng khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo uy tín trên thị trường.
Nguồn vốn lớn là điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về quy mô, khối lượng, thời gian cho vay. Đặc biệt ngày nay khi xuất hiện hàng loạt tổ chức tín dụng đã làm cho tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên gay gắt. Với năng lực tài chính vững mạnh, ngân hàng sẽ chủ động đa dạng hóa sản phẩm, loại hình dịch vụ, chương trình khuyến mại nhằm cạnh tranh được với các ngân hàng khác trong việc thu hút khách hàng, mở rộng thị trường. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại - Huy động tiền gửi của khách hàng NHTM có thể chia ra các nhóm đối tượng khách hàng để thực hiện hoạt động huy động tiền gửi như: - Huy động tiền gửi từ khách hàng cá nhân: khách hàng cá nhân được coi là bộ phận thường xuyên có nguồn tiền nhàn rỗi do tạm thời chưa dùng đến hoặc do tâm lý, thói quen tích lũy tiền ở hiện tại để phục vụ cho nhu cầu tài chính trong tương lai.
Có nhiều cách để giữ tiền. Ban đầu họ giữ tiền trong két sắt nhưng việc giữ tiền như vậy sẽ không an toàn, đồng tiền nằm im không sinh lời, thậm chí còn mất giá trị do ảnh hưởng của lạm phát. Ngoài cách trên, họ có thể mua chứng khoán để đầu tư. Hoạt động này mang lại lợi nhuận cao song chứa nhiều rủi ro, có thể mất vốn khi công ty làm ăn thua lỗ.
Cách thứ ba vừa an toàn hơn, vừa sinh lời ổn định hơn là gửi tiền vào ngân hàng. Nếu tiếp cận và khai thác nguồn tiền từ dân cư có hiệu quả sẽ đem lại cho ngân hàng nguồn vốn dồi dào phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngân hàng huy động nguồn này qua các hình thức như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi.