Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về ngân Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ, quan niệm: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính (Dương Hữu Hạnh,1973). Đạo Luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã đưa ra định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam: Ngân hàng thương mại được hiểu là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán (Trần Huy Hoàng, 2007). Từ những nhận định trên có thể thấy: NHTM là tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Trong mọi thời kỳ, ngân hàng luôn giữ vai trò là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội (Nguyễn Văn Tiến, 2009).Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với sự phát triển kinh tế 1. Ngân hàng thương mại cung cấp vốn cho nền kinh tế NHTM ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá.
Khi sản xuất hàng hóa phát triển, lưu thông hàng hóa ngày càng được mở rộng, nhu cầu về vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh ngày càng cao. Mặt khác trong xã hội lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trình tiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác. NHTM là chủ thể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 7 nguồn vốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng. NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Nhờ có những hoạt động và nghiệp vụ của NHTM, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, tăng năng suất lao động, từ đó thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển (Phan Thị Cúc, 2008). Ngân hàng thương mại là cầu nối doanh nghiệp và thị trường Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp khi sản xuất phải luôn đặt ra và trả lời được 3 câu hỏi: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Sản xuất của doanh nghiệp phải phù hợp với tín hiệu của thị trường. Để có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường, các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao sản xuất, đa dạng hóa mẫu mã, sản phẩm, đầu tư các trang thiết bị, công nghệ hiện đại. Những hoạt động này luôn đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư lớn và các NHTM có thể đáp ứng được vấn đề này.
Nói cách khác, NHTM là một cầu nối vững chắc giữa doanh nghiệp và thị trường, giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng về mọi mặt của sản xuất kinh doanh và từ đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh (Phan Thị Cúc, 2008). Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trường, NHTM với tư cách là trung tâm tiền tệ của toàn bộ nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển hài hoà cho tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, có thể nói mỗi sự dao động của Ngân hàng đều gây ảnh hưởng ít nhiều đến các thành phần kinh tế khác. Do vậy, sự hoạt động có hiệu quả của NHTM thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của nó thực sự là công cụ tốt để Nhà nước tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động thanh toán giữa các Ngân hàng trong hệ thống, NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông.
Thông qua việc cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTM đã thực hiện việc dẫn dắt các nguồn tiền, tập hợp và phân phối vốn trên thị trường, điều khiển chúng một cách hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô. Mặt khác thông qua NHTM, NHNN có thể ấn định mức lãi suất huy động, quy định thời hạn cho vay, tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc để thực thi chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 8 sách tiền tệ mở rộng hay thắt chặt nhằm quản lý lượng tiền trong lưu thông, đảm bảo sự ổn định của thị trường tiền tệ. Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống NHTM thườmg đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được Nhà nước sử dụng (Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Thảo, 2002). Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết, cấp bách.
Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới và là bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó.Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác NHTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài, NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế (Phan Thị Cúc, 2008). Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Để thực hiện nhiệm vụ trung gian tài chính trong nền kinh tế, NHTM thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn của mình.
Nhìn chung hoạt động của NHTM bao gồm 3 lĩnh vực cơ bản: - Huy động vốn: Đây là nghiệp vụ cơ bản tạo tiền đề cho hoạt động của NHTM. Để tạo lập nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của mình các NHTM thực hiện huy động mọi nguồn vốn hợp pháp tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, tập trung vào ngân hàng (luận văn sẽ đi sâu phân tích nghiệp vụ này). - Hoạt động tín dụng: Cho vay là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các NHTM Việt Nam. NHTM sử dụng phần lớn số tiền huy động được để cho vay đối với nền kinh tế.
Đây là hoạt động kinh doanh tạo ra thu nhập chủ yếu để bù đắp các loại chi phí trong hoạt động ngân hàng và thu lợi nhuận. - Hoạt động ngân quỹ: Nhằm duy trì khả năng thanh khoản của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán thường xuyên của khách hàng. Mức dự trữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 9 này cao hoặc thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động, cơ cấu và tính chất nguồn vốn của NHTM. Các khoản dự trữ của NHTM không sinh lời.
- Các dịch vụ ngân hàng (dịch vụ thanh toán, đại lý, tư vấn…): Quan điểm truyền thống cho rằng thu nhập của ngân hàng đều bắt nguồn từ hoạt động cho vay và đầu tư, nhưng thực tế hiện nay thu nhập từ hoạt động quản lý các khoản mục nguồn vốn cũng đóng một vai trò quan trọng như thu nhập từ các khoản mục tài sản trong việc đạt được mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng. Các mặt hoạt động nghiệp vụ của NHTM có mối quan hệ mật thiết, hỗ trợ và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Chỉ huy động được vốn thì mới có nguồn vốn để cho vay và đầu tư. Ngược lại, việc sử dụng vốn cho vay có hiệu quả sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển, tạo ra nguồn vốn dồi dào để huy động vào ngân hàng.
Mặt khác muốn cho vay và huy động vốn tốt thì ngân hàng phải làm tốt các dịch vụ trung gian của mình. NHTM nhận tiền gửi hoặc phát hành các công cụ nợ để huy động vốn, sử dụng vốn này để cho vay với một lãi suất và kỳ hạn ấn định. Sau một thời gian nhất định, người vay phải trả cho ngân hàng vốn và một số tiền lãi. Lãi thu được từ các khoản cho vay và các khoản đầu tư sẽ tạo nên thu nhập của ngân hàng.
Để tạo lập được nguồn vốn nhằm tài trợ cho danh mục tài sản của mình, các NHTM phải chi phí huy động vốn bao gồm những chi phí như: Tiền lãi; phí bảo hiểm, các khoản chi phí môi giới, chi phí cho bộ máy quản lý, các chi phí khác. Với mục tiêu tăng cường hoạt động kinh doanh và tối đa hoá lợi nhuận, hầu hết các NHTM thường xuyên tìm cách khai thác các nguồn vốn với chi phí thấp nhất để mở rộng cho vay và đầu tư. Đây là phương thức kinh doanh chủ yếu của các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó NHTM còn cung cấp nhiều các loại hiǹ h dịch vụ tài chính khác như: Bảo hiểm, tín thác, đầu tư, kinh doanh chứng khoán… Xuất phát từ xu hướng phát triển trong hoạt động của NHTM hiện đại là mở rộng các hoạt động dịch vụ, bên cạnh việc vẫn duy trì các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống, thông qua việc đa dạng hoá hoạt động, các NHTM có thể vừa tăng thu nhập vừa có thể cạnh tranh, phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh so với các định chế tài chính phi ngân hàng trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 10 Ngoài ra, hoạt động kinh doanh ngoại tệ đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập từ chênh lệch tỷ giá và các dịch vụ thanh toán quốc tế gọi là “doanh lợi hối đoái”.