CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Ngân hàng thương mại và nguồn vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại 1.Khái niệm về Ngân hàng thương mại Hiện nay, khái niệm NHTM được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung NHTM được nhìn nhận là 1 trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với các nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán và những nghiệp vụ ngân hàng khác. Đối với Việt Nam, NHTM được định nghĩa là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanh toán. Ngoài ra, Nghị định của chính phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 có nêu: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước”.
Trong đó, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Từ những nhận định trên có thể thấy: “NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội” 1.Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại SV: Nguyễn Thị Thu Hương 5 Mã SV: 1154011350. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Đinh Xuân Hạng Hoạt động huy động vốn Đây là nghiệp vụ cơ bản tạo vốn cho NH, giúp NH có khả năng hoạt động và cạnh tranh trên thị trường.
Các nghiệp vụ huy động vốn của NH bao gồm: - Nghiệp vụ hoạt động tiền gửi: là nghiệp vụ quan trọng nhất, chiếm phần lớn tỷ trọng trong nghiệp vụ huy động vốn của NH và cũng là đối tượng chủ yếu trong hoạt động quản lý tài sản nợ của NH bao gồm tiền gửi của các tổ chức cá nhân và tiền gửi dân cư. - Nghiệp vụ huy động vốn dưới hình thức phát hành các phiếu vay nợ: như việc phát hành trái phiếu, các chứng chỉ tiền gửi có thời hạn khác nhau với mục đích đáp ứng nhu cầu vốn cấp thiết. - Vay trên thị trường liên ngân hàng: đây là nhân tố quyết định việc tạo lập mới vốn khả dụng cho NH, tạo điều kiện cho NH tăng khả năng sinh lời Hoạt động sử dụng vốn Huy động vốn được rồi, NHTM phải làm thể nào để hiệu quả hoá những nguồn tài sản này. Hầu như tất cả các khoản mục bên tài sản nợ của NH đều là vốn vay, nghĩa là NH phải trả lãi suất cho nó đến từng ngày.
Do đó để khỏi bị thiệt hại, NH luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay số tài sản ấy vào những dịch vụ sinh lãi. Từ lãi thu được, NH sẽ dùng nó để trả lãi suất cho vốn đã vay, thanh toán các chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là lợi nhuận của NH. Nói cách khác, nghiệp vụ có của NH là những nghiệp vụ thực hiện sử dụng những khoản vốn đã huy động (tập trung ở nghiệp vụ nợ) nhằm mục đích sinh lợi. Những hoạt động khác: Các hoạt động này không thể hiện trên bảng cân đối tài sản.
Các hoạt động này ít rủi ro hay không có rủi ro nhưng mang lại cho NH thu nhập cao và tạo điều kiện cho hoạt động nhận tiền gửi và cho vay của NH. SV: Nguyễn Thị Thu Hương 6 Mã SV: 1154011350. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Đinh Xuân Hạng 1. Tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại 1.Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm Khái niệm: là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi suất theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định pháp luật về bảo hiểm tiền gửi (bao gồm phần gốc là số tiền gửi ban đầu và khoản tiền lãi).
Bản chất của tiền gửi tiết kiệm là một khoản đầu tư hôm nay để có được một khoản tiền lớn hơn trong tương lai Hình thức cơ bản của tiền gửi là sổ tiết kiệm ( là loại tiết kiệm mà người gửi tiền được NH cấp cho một sổ dùng để gửi tiền vào và rút tiền ra, đồng thời cũng xác nhận số tiền đã gửi). Ngoài ra trên thị trường một số ngân hàng đã áp dụng tiết kiệm điện tử vào hệ thống NH của mình để phục vụ KH. NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền gửi, vốn hình thành từ tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu vốn kinh doanh của ngân hàng. Chính vì vậy, huy động tiền gửi là nội dung quan trọng trong huy động nguồn vốn của NHTM.
Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Mục tiêu chính của huy động tiền gửi là tìm được nguồn và đưa ra những cách để có thể huy động vốn với chi phí thấp nhất và có được lượng tiền gửi đáp ứng được yêu cầu vay và các nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.Các loại tiền gửi tiết kiệm Hiện nay, để nâng cao chất lượng dịch vụ và gia tăng lượng tiền gửi tiết kiệm. Các NH đã đưa ra nhiều loại hình tiền gửi tiết kiệm khác nhau. Tùy thuộc vào mục đích cũng như nhu cầu của từng đối tượng trong nền kinh tế, tiền gửi tiết kiệm được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Tuy nhiên, việc phân loại theo thời hạn của khoản tiền gửi tiết kiệm vẫn là phổ biến nhất. Theo đó, tiền gửi tiết kiệm được chia thành: SV: Nguyễn Thị Thu Hương 7 Mã SV: 1154011350. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Đinh Xuân Hạng Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. - Khái niệm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm.
- Đặc điểm: Ngân hàng phải chi trả ngay lập tức vào bất kỳ thời điểm nào theo lệnh của chủ tài khoản. Vì vậy, đây là loại tiền gửi biến động nhiều nhất, thời gian duy trì ở NH là ngắn nhất, NH rất khó có thể dự đoán được cũng như bị động trong việc cân đối giữa huy động vốn và cho vay. Đây là loại tiền gửi đưa lại nguồn vốn cho NH với chi phí thấp, ít nhạy cảm với biến động của lãi suất. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn - Khái niệm: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một ký hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm - Đặc điểm: Là một khoản tiền gửi có tính ổn định cao.
Do tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được phân chia rõ ràng theo kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn. Chính vì thế, NH dễ dàng trong vấn đề kiểm soát cũng như luôn chủ động về vốn để tiến hành những dự định cũng như mục tiêu đã đề ra. Chi phí để huy động loại tiền gửi này cao hơn so với loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Do lãi suất NH chi trả cho chủ tài khoản là cao hơn Tiền gửi tiết kiệm đặc biệt Để đa dạng hóa và tạo thêm tính tiện ích của sản phẩm tiết kiệm, nhằm thu hút khách hàng, giúp ngân hàng tăng thị phần huy động.
Ngân hàng còn đưa ra một số loại hình tiết kiệm mới như sau: Tiền gửi tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang theo số dư SV: Nguyễn Thị Thu Hương 8 Mã SV: 1154011350. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS – TS Đinh Xuân Hạng Tiền gửi tiết kiệm tự động: Số tiền khách hàng yêu cầu được chuyển tự động từ các tài khoản không kỳ hạn (tài khoản nguồn) vào tài khoản có kỳ hạn (tài khoản tiết kiệm tự động) với chu kỳ xác định. Tiền gửi tiết kiệm chọn kỳ lĩnh lãi: khách hàng chọn gửi sản phẩm này được hưởng lãi suất cao hơn tiết kiệm thường, được rút vốn, lãi và điều chỉnh lãi suất định kỳ do khách hàng lựa chọn. Tiền gửi tiết kiệm gởi góp: là loại tiết kiệm có kỳ hạn mà khách hàng có thể gởi theo hình thức thỏa thuận nhiều lần vào một sổ tiết kiệm theo thời hạn nhất định đã đăng ký với ngân hàng.
Hình thức này phù hợp với những khách hàng có thu nhập ổn định, và muốn tích lũy lâu dài cho tương lai. Tiền gửi tiết kiệm gửi một lần rút nhiều lần.Vai trò của tiền gửi tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Để tồn tại và phát triển cũng giống như những tổ chức khác, NH cũng cần có nguồn vốn để tiến hành các hoạt đồng. Trên thực tế, nguồn vốn huy động được của NH thì TGTK chiếm số lượng lớn. Về cơ bản TGTK là cơ sở chính cho các khoản cho vay theo đúng tiêu chí của NH là “đi vay để cho vay”, là nguồn gốc xâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của NH.
Đồng thời, tiền gửi tiết kiệm cũng là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của NH, là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt NH với các tổ chức khác. Chính vì thế, hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng và huy động vốn nói chung luôn có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động của NHTM. Nó được biểu hiện như sau: Thứ nhất: Huy động vốn, đặc biệt là huy động TGTK là hoạt động cơ sở để Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn đầu vào khởi đầu cho một chu trình tiền tạo ra tiền.