Microsoft Word 10415: Tăng Cường Hoạt Động Nhập Khẩu Tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Microsoft word 10415, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Tốt Nghiệp

2007

90
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐỂ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY BAO BÌ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm, hình thức và vai trò nhập khẩu

1.2. Các hình thức nhập khẩu chủ yếu

1.2.1. Nhập khẩu trực tiếp

1.2.2. Nhập khẩu uỷ thác

1.2.3. Nhập khẩu liên doanh

1.2.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng

1.2.5. Nhập khẩu tái xuất

1.3. Vai trò của nhập khẩu

1.4. Nội dung của hoạt động nhập khẩu

1.4.1. Nghiên cứu, lựa chọn thị trường, đối tác

1.4.2. Lựa chọn phương thức giao dịch nhập khẩu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY BAO BÌ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. Sơ lược sự hình thành và phát triển của Tổng công ty Bao bì Việt Nam

2.1.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của Tổng công ty

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty

2.1.2.1. Sơ đồ tổ chức của Tổng công ty
2.1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

2.1.3. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty

2.1.3.1. Đặc điểm về nhân lực
2.1.3.2. Đặc điểm về vốn
2.1.3.3. Đặc điểm về sản phẩm
2.1.3.4. Đặc điểm về thị trường

2.1.4. Lĩnh vực kinh doanh, phạm vi hoạt động và mục tiêu của Tổng công ty

2.1.4.1. Lĩnh vực kinh doanh của Công ty
2.1.4.2. Phạm vi kinh doanh và hoạt động của Công ty
2.1.4.3. Mục tiêu hoạt động của Công ty

2.2. Thực trạng hoạt động nhập khẩu của Tổng công ty trong thời gian qua

2.2.1. Về kim ngạch nhập khẩu

2.2.2. Về hình thức nhập khẩu của Tổng công ty

2.2.3. Về cơ cấu mặt hàng nhập khẩu

2.2.4. Về bạn hàng nhập khẩu

2.2.5. Đánh giá hoạt động nhập khẩu của Tổng công ty giai đoạn 2004 - 2007

2.2.5.1. Kết quả đạt được
2.2.5.2. Những mặt hạn chế

2.3. Những nguyên nhân của hạn chế

2.3.1. Nguyên nhân chủ quan
2.3.2. Nguyên nhân khách quan

3. CHƯƠNG 3: TRIỂN VỌNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU ĐỂ ĐẨY MẠNH KINH DOANH CỦA TỔNG CÔNG TY BAO BÌ VIỆT NAM

3.1. Phương hướng của Tổng công ty trong những năm tới

3.2. Triển vọng kinh doanh các mặt hàng nhập khẩu của Tổng công ty

3.3. Các giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của Tổng công ty Bao bì Việt Nam

3.3.1. Giải pháp từ phía Tổng công ty

3.3.1.1. Giải pháp hoàn thiện hoạt động nghiên cứu nhu cầu đối với hàng nhập khẩu
3.3.1.2. Giải pháp hoàn thiện nghiên cứu thị trường nhập khẩu
3.3.1.3. Thực hiện công tác giao dịch, đàm phán, kí kết hợp đồng
3.3.1.4. Giải pháp hoàn thiện nghiệp vụ thực hiện hợp đồng nhập khẩu
3.3.1.5. Nâng cao nhận thức và khả năng vận dụng Marketing thương mại quốc tế vào hoạt động nhập khẩu
3.3.1.6. Giải pháp để có chế độ đãi ngộ hợp lý để thu hút và tận dụng nguồn nhân lực trẻ dồi dào có chất lượng
3.3.1.7. Giải pháp đa dạng hoá hình thức nhập khẩu
3.3.1.8. Giải pháp để tăng cường hoạt động huy động nguồn vốn
3.3.1.9. Tổng Công ty cần chú trọng để phát hiện những khách hàng tiềm năng trong nước

3.3.2. Giải pháp từ phía Nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hoạt Động Nhập Khẩu Tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam

Hoạt động nhập khẩu tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu và sản phẩm cho sản xuất. Việc tăng cường hoạt động này không chỉ giúp công ty nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc hiểu rõ về hoạt động nhập khẩu là điều cần thiết.

1.1. Khái Niệm Và Vai Trò Của Nhập Khẩu

Nhập khẩu là hoạt động mua hàng hóa từ nước ngoài, giúp bổ sung nguồn lực cho sản xuất trong nước. Hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

1.2. Các Hình Thức Nhập Khẩu Chính

Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam áp dụng nhiều hình thức nhập khẩu như nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu ủy thác và nhập khẩu liên doanh. Mỗi hình thức có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp với từng chiến lược kinh doanh.

II. Thực Trạng Hoạt Động Nhập Khẩu Tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam

Trong những năm qua, hoạt động nhập khẩu của Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng mạnh mẽ, cho thấy nhu cầu tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu ngày càng cao. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua.

2.1. Đánh Giá Kim Ngạch Nhập Khẩu

Kim ngạch nhập khẩu của công ty đã tăng từ 2004 đến 2007, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, cần có các biện pháp để duy trì và phát triển bền vững.

2.2. Những Hạn Chế Trong Hoạt Động Nhập Khẩu

Mặc dù có sự tăng trưởng, nhưng Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam vẫn gặp phải một số hạn chế như thiếu thông tin thị trường và khó khăn trong việc đàm phán hợp đồng với đối tác nước ngoài.

III. Các Giải Pháp Đẩy Mạnh Hoạt Động Nhập Khẩu Tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam

Để tăng cường hoạt động nhập khẩu, Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam cần áp dụng một số giải pháp chiến lược. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả kinh doanh mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

3.1. Nâng Cao Năng Lực Nghiên Cứu Thị Trường

Cần tăng cường nghiên cứu thị trường để nắm bắt xu hướng và nhu cầu của khách hàng. Việc này sẽ giúp công ty lựa chọn được đối tác và sản phẩm phù hợp.

3.2. Cải Thiện Quy Trình Đàm Phán Hợp Đồng

Cải thiện quy trình đàm phán hợp đồng sẽ giúp công ty giảm thiểu rủi ro và tăng cường mối quan hệ với các đối tác nước ngoài. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Hoạt Động Nhập Khẩu Tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam

Hoạt động nhập khẩu không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm. Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam đã áp dụng nhiều công nghệ mới trong sản xuất nhờ vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu chất lượng cao.

4.1. Tác Động Đến Chất Lượng Sản Phẩm

Việc nhập khẩu nguyên liệu chất lượng cao đã giúp công ty nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó tăng cường sự hài lòng của khách hàng.

4.2. Kết Quả Kinh Doanh Sau Khi Tăng Cường Nhập Khẩu

Kết quả kinh doanh của Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt sau khi áp dụng các giải pháp tăng cường hoạt động nhập khẩu. Doanh thu và lợi nhuận đều tăng trưởng ổn định.

V. Kết Luận Về Tương Lai Hoạt Động Nhập Khẩu Tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam

Tương lai của hoạt động nhập khẩu tại Tổng Công Ty Bao Bì Việt Nam rất hứa hẹn. Với những giải pháp đã được đề xuất, công ty có thể tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường nhập khẩu.

5.1. Triển Vọng Phát Triển Hoạt Động Nhập Khẩu

Triển vọng phát triển hoạt động nhập khẩu của công ty là rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

5.2. Những Thách Thức Cần Vượt Qua

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng công ty cũng phải đối mặt với nhiều thách thức như cạnh tranh từ các đối thủ và biến động của thị trường quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHẬP KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐỂ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY BAO BÌ VIỆT NAM 1. Khái niệm, hình thức và vai trò nhập khẩu 1. Khái niệm Trong điều kiện kinh tế mở, hội nhập và cạnh tranh quốc tê, vấn đề mở rộng và phát triển thương mại quốc tế giữa các quốc gia ngày càng trở nên tất yếu và cấp bách đối với các quốc gia. Hoạt động thương mại quốc tế giúp các quốc gia có thể đáp ứng một cách đầy đủ hơn những nhu cầu đa dạng của con người.

Mặt khác, thương mại quốc tế còn giúp các quốc gia phát huy được tối đa khả năng, tận dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn lực sẵn có của quốc gia mình. Với ý nghĩa như vậy, nhập khẩu trong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác. Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước. Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại.

Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại. Đơn vị tính khi thống kê về nhập khẩu thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định. Đôi khi, nếu chỉ xét tới một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng (cái, tấn, v.) Kinh tế quốc tế 46 Trang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái. Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao.

Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi. Các hình thức nhập khẩu chủ yếu Nhập khẩu có rất nhiều hình thức đa dạng mà từ đó các doanh nghiệp có thể tìm cho mình một hình thức nhập khẩu phù hợp nhất, có hiệu quả nhất trước sự thay đổi của các yếu tố liên quan đến môi trường kinh tế. Có thể nói đến một số hình thức nhập khẩu mà các doanh nghiệp thường lựa chọn sau: 1. Nhập khẩu trực tiếp Nhập khẩu trực tiếp (hay còn gọi là nhập khẩu tự doanh) là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp.

Từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ các chi phí, thiết lập phương án kinh doanh hợp lý, đảm bảo kinh doanh có lãi, đúng phương hướng, chính sách luật pháp của quốc gia cũng như quốc tế, doanh nghiệp tiến hành hoạt động nhập khẩu trực tiếp với đối tác nước ngoài. Đặc điểm của nhập khẩu trực tiếp: trong hoạt động nhập khẩu này, doanh nghiệp nhập khẩu phải tự chịu trách nhiệm tất cả mọi rủi ro, cho nên cần phải có sự xem xét kỹ lưỡng từ bước thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, rồi ký kết hợp đồng… Vì nhập khẩu tự doanh nghĩa là doanh nghiệp phải tự bỏ vốn để kinh doanh, phải chịu mọi chi phí giao dịch, chi phí nghiên cứu thị trường, chi phí giao nhận hàng hoà, chi phí lưu kho, chi phí tiêu thụ hàng hoá, thuế,… Do đó, doanh nghiệp phải tính toán rất thận trọng ngay từ việc chọn mặt hàng, nghiên cứu thị trường, marketing,… Thông thường doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng ngoại thương với bên nước ngoài, còn hợp đồng bán trong nước sau khi hàng về sẽ lập sau hoặc Kinh tế quốc tế 46 Trang 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp không cần lập một hợp đồng nào khác khi bán với hình thức như: bán lẻ, trao tay. Nhập khẩu uỷ thác Hoạt động nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu hình thành giữa một doanh nghiệp hoạt động trong nước có ngành hàng kinh doanh một số mặt hàng nhập khẩu nhưng không được phép xuất nhập khẩu trực tiếp, đã uỷ thác cho doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán với nước ngoài để làm thủ tục nhập khẩu theo yêu cầu của bên uỷ thác và được hưởng hoa hồng gọi là phí uỷ thác.

Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác được quy định đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác. Đặc điểm của nhập khẩu uỷ thác: trong hoạt động này, doanh nghiệp xuất nhập khẩu (doanh nghiệp nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có) không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ vì không phải tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra đại diện cho bên uỷ thác để giao dịch với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá cũng như thay mặt cho bên uỷ thác khiếu nại đòi bồi thường với nước ngoài khi có tổn thất. Khi nhận uỷ thác, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu này phải lập hai hợp đồng: - Một hợp đồng mua bán hàng hoá với nước ngoài. - Một hợp đồng nhận uỷ thác với bên uỷ thác.

Nhập khẩu liên doanh Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó ít nhất có một doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùng giao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy Kinh tế quốc tế 46 Trang 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên, cùng chia lãi, lỗ thì cùng nhau chịu. Đặc điểm của nhập khẩu liên doanh: ở hoạt động nhập khẩu này thì các doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh sẽ phải chịu rủi ro ở mức thấp hơn so với nhập khẩu trực tiếp vì trường hợp này doanh nghiệp chỉ phải góp một số vốn nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của các bên tham gia tăng theo vốn góp, việc phân chia chi phí, thuế doanh thu dựa theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ hai bên phân chia tuỳ theo thoả thuận dựa trên vốn góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗi bên gánh vác. Doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp tham gia liên doanh phải lập hai hợp đồng: - Một hợp đồng mua hàng với nước ngoài. - Một hợp đồng liên doanh với doanh nghiệp khác (không nhất thiết phải là doanh nghiệp của Nhà nước).

Nhập khẩu hàng đổi hàng Nhập khẩu đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu. Nó là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh toán trong hợp đồng này không phải dùng tiền mà chính bằng hàng hoá. Ở đây mục đích chính của hoạt động nhập khẩu hàng hoá không phải chỉ thu lãi từ hoạt động nhập khẩu mà còn nhằm để xuất được hàng, thu cả lãi từ hoạt động xuất. Đặc điểm của nhập khẩu đổi hàng: hoạt động này có lợi vì cùng một hợp đồng có thể tiến hành cả hoạt động xuất và hoạt động nhập, do đó có thể thu lãi từ hai hoạt động.

Hoạt động xuất phải tương đương về giá trị; bạn hàng bán cũng chính là bạn hàng mua; doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim ngạch nhập và xuất, doanh số tiêu thụ tính trên số hàng nhập và xuất. Kinh tế quốc tế 46 Trang 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp 1. Nhập khẩu tái xuất Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào trong nước nhưng không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang nước thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận, tuy nhiên những hàng nhập khẩu này không được chế biến tại nước tái xuất. Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu hút ba nước tham gia: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất.

Đặc điểm của nhập khẩu tái xuất: doanh nghiệp nước tái xuất phải tính toàn bộ chi phí tổ chức, gặp gỡ, bàn bạc mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập, đảm bảo sao cho số tiền thu được lớn hơn chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động. Doanh nghiệp nước tái xuất phải tiến hành hai hợp đồng: hợp đồng xuất khẩu và hợp đồng nhập khẩu nhưng không phải chịu thuế xuất nhập khẩu với mặt hàng kinh doanh. Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim ngạch cả xuất, cả nhập, doanh số tính trên giá trị hàng xuất khẩu do đó vẫn phải chịu thuế doanh thu. Để đảm bảo thanh toán hợp đồng tái xuất thường sử dụng thư tín dụng giáp lừng; hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất, mà chuyển thẳng sang nước thứ ba nhưng tiền thanh toán phải do người tái xuất thu từ người nhập khẩu giao cho người xuất khẩu.

Nhiều khi người tái xuất còn thu được lợi tức về tiền hàng do chênh lệch giữa thời điểm thu tiền từ người nhập khẩu và thời điểm trả tiền cho người xuất khẩu. Vai trò của nhập khẩu Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của hoạt động ngoại thương. Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước; nhập khẩu để bổ sung hàng hoá trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng đủ nhu cầu; nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu những hàng hoá mà nếu sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu. Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân.

Kinh tế quốc tế 46 Trang 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Bích Diệp Luận văn tốt nghiệp Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước công nghiệp hoá đất nước, đuổi kịp các nước tiên tiến, bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo phát triển nền kinh tế cân đối ổn định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ