CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SPIN-OFF TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Định nghĩa về Spin-off 1. Trong nước Theo tác giả Phạm Huy Tiến, spin-off là những “DN được hình thành do một (hoặc nhóm) nhà khoa học – sáng lập viên có tinh thần kinh thương tách khỏi “ tổ chức mẹ„ (trường ĐH, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm quốc gia hay một DN để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh độc lập mới.
Tổ chức mẹ hỗ trợ cho DN spin-off bằng cách cho phép chuyển giao tri thức, năng lực hoặc các phương tiện trực tiếp„1. Theo tác giả Trần Xuân Hoài, “ DN spin-off là một bộ phận hữu cơ của cơ sở nghiên cứu (viện hay trường ĐH) nhưng hoạt động theo Luật DN. “ Hàm lượng chất xám„ chính là điều kiện tiên quyết của DN và khiến nó khác biệt với các DN khác. DN là một khối gắn kết cố định phòng thí nghiệm – nhà khoa học – nhà sản xuất, nó vừa tạo quyền chủ động cho nhà khoa học, vừa giúp nhanh chóng đưa sản phẩm CN cao ra thị trường„2.
Tác giả Nguyễn Quân cho rằng “ hình thức DN spin-off do người sáng tạo hoặc người chủ sở hữu CN đó sáng lập (góp phần và huy động vốn) nhằm đưa kết quả NCKH vào ứng dụng trong sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa mang hàm lượng chất xám cao cho xã hội là phương thức để nhà khoa học tự chủ, tự chịu trách nhiệm đến cùng với kết quả nghiên cứu của mình. DN spin-off gắn bó hữu cơ với cơ sở nghiên cứu, hình thành trên nền kết quả KH&CN của cơ sở nghiên cứu tạo ra và do những người sáng tạo ra cùng với cơ sở nghiên cứu sáng lập và điều hành, hoạt động theo quy định của luật DN và các quy định khác của pháp luật hiện hành„3. 1 Phạm Huy Tiến (2006), Tổ chức khoa học và CN, Bài giảng cho học viên cao học, ngành quản lý KH&CN. 2 Trần Xuân Hoài, doanh nghiệp trong phòng thí nghiệm, tiasang.vn, http://tiasang.aspx?tabid=100&News=1144&CategoryID=32, cập nhật ngày 25/5/2014 3 Nguyễn Quân (2006), DN KH&CN – Một lực lượng sản xuất mới, Tạp chí hoạt động khoa học, số tháng 10/2006.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nghiên cứu về “Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của DN KH&CN, khả năng áp dụng vào Việt Nam„tác giả Nguyễn Văn Học đưa ra khái niệm Xí nghiệp spin-off: “Là loại hình DN trưởng thành trên cơ sở thương mại hóa một hoặc nhiều CN được ươm tạo trực tiếp tại viện/trường, vườn ươm CN. Nó là giai đoạn cuối của xí nghiệp khởi nghiệp4 - giai đoạn trưởng thành„[8, tr2]. Tác giả Trần Văn Dũng (2008) đưa ra khái niệm DN spin-off như sau: “DN spin- off là một hệ thống (hệ con) được hình thành do một số phần tử nòng cốt là những nhà khoa học có tinh thần kinh thương, nắm giữ một hoặc một số bí quyết CN, sau một quá trình hoạt động và tích lũy trong tổ chức mẹ (hệ mẹ: trường ĐH, viện nghiên cứu, hoặc tổ chức KH&CN khác) gặp điều kiện thuận lợi về môi trường, được tổ chức mẹ tạo điều kiện chủ động tự tách ra (hoặc được tách ra) thành lập DN độc lập để thực hiện mục tiêu tạo ra sản phẩm CN và sản xuất, kinh doanh các sản phẩm CN„ Như vậy, một số định nghĩa của các tác giả chia sẻ những điểm chung với DN spin-off đó là là loại hình DN dựa trên tiềm năng về KH&CN, và khả năng áp dụng tri thức khoa học, tri thức CN như là một lợi thế cạnh tranh của loại hình DN này. Quốc tế Khái niệm spin-off về bản chất xuất phát từ lĩnh vực vật lý nguyên tử là một quá trình mà ở đó điện tử chuyển động quay quanh hạt nhân khi tích đủ năng lượng thì điện tử đó văng khỏi quỹ đạo chuyển động [5, tr 27].
Consiglo và Antonelli (2001) đưa ra khái niệm:“spin-off là quá trình ở đó một DN độc lập được hình thành với những người đã từng làm việc trước đây hoặc làm việc cho một tổ chức khác„. Khái niệm DN spin-off được xem xét thông qua hai khía cạnh: - Đặc tính của người khởi xướng. Đó là: 4 Xí nghiệp khởi nghiệp (Start-up firm): theo nghĩa thông thường đây là DN mới thành lập. Trên thực tế, tại các nước công nghiệp mới và các nước phát triển thì xí nghiệp khởi nghiệp là giai đoạn đầu của một DN vừa và nhỏ với tư cách là chìa khóa của đổi mới công nghiệp nói riêng và của hệ thống đổi mới nói chung.
Nó được “ấp” tại một lọai hình vườn ươm nào đó (của trường ĐH, của khu CNC, của làng khoa học…) 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Chiếm giữ một bí quyết CN cụ thể và có thể áp dụng được bí quyết đó để tạo ra hoặc đổi mới sản phẩm hay quy trình CN. + Quan tâm đến việc khai thác một cách tối đa bí quyết CN cụ thể và tạo ra được. + Có khả năng tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cụ thể dựa trên bí quyết CN của mình để có khả năng cạnh tranh trên thị trường. - Cách thức khai thác kết quả nghiên cứu: sự hình thành DN spin-off thường gắn liền với việc chuyển giao bí quyết CN và di chuyển nhân lực tham gia vào tạo nên bí quyết đó.
Rebecca De Coster, Clive Butler (2003) định nghĩa về công ty spin-off trong trường ĐH là một công ty CN cao xuất phát từ nghiên cứu trong trường ĐH, hình thành nên từ thương mại hóa tài sản trí tuệ với sự tham gia của các nhà khoa học then chốt. Theo Thorburn , L (2000), Bernard, Y và cộng sự (2002), định nghĩa spin-off (DN vệ tinh hàn lâm) là những DN được tạo ra để thương mại hóa bí quyết kỹ thuật do tổ chức nghiên cứu và phát triển sở hữu. Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp giấy phép SHTT cho cán bộ nghiên cứu và trên cơ sở đó hình thành SHTT của DN. Theo Reinhilde Veugelers và Elena Del Rey (2014) trong báo cáo về “Sự đóng góp và vai trò của các trường ĐH trong các hoạt động đổi mới, vấn đề phát triển và nguồn lao động„ đề cập: Trường hợp các nhà khoa học lập ra DN để triển khai ý tưởng khoa học của mình vào sản xuất, kinh doanh gọi là DN spin – off.
Định nghĩa DN spin-off của ETH Zurich Thụy Sĩ (thường được gọi là Viện CN liên bang Thụy Sĩ) : “Một DN Spin-off của ETH là một DN mới được thành lập dựa trên kết quả nghiên cứu cuả ETH do các cán bộ của ETH hoặc học viên của ETH tham gia„. Theo khái niệm của ĐH Alberta (Canada): “Một công ty spin-off của ĐH Alberta là một DN mà hoạt động sản xuất kinh doanh của nó chủ yếu khởi nguồn từ sự ứng dụng hoặc sử dụng một CN và/hoặc một Know-how do một chương trình nghiên cứu của ĐH Alberta đã hoặc đang phát triển ra. DN mới này được lập ra nhằm (1) 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyển giao một bản quyền phát minh, (2) tài trợ nghiên cứu để phát triển tiếp một CN hoặc phát minh mà công ty sẽ chuyển giao, hoặc (3) để cung cấp một dịch vụ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của ĐH tạo ra„ Trong tài liệu của Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc về “Thúc đẩy tinh thần kinh doanh sáng tạo„ (Fostering Innovative Entrepreneurship, 2012) đã đề cập đến các cách thức để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, trong đó có việc thành lập các spin-off. “Các DN Spin-off được thành lập trong trường ĐH hoặc bởi các nhà khoa học nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.
Chúng thường được đặt trong khuôn viên của các trường ĐH„ Như vậy, có thể thấy rằng DN spin-off nói chung, spin-off trong trường ĐH nói riêng đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu với các góc độ tiếp cận khác nhau. Có thể thấy các khái niệm được đề cập có phạm vi tiếp cận rộng, hẹp khác nhau, là các khái niệm chung hoặc được định nghĩa cho riêng tổ chức đó (ví dụ như spin-off trong trường ĐH Alberta, Canada) nhưng chủ yếu là đề cập đến đặc điểm chung, cơ bản để hình thành nên spin-off, trong đó các nội dung được đề cập và có tần suất xuất hiện nhiều trong các định nghĩa này là sự khẳng định về nguồn gốc hình thành từ nhà khoa học có tinh thần kinh thương làm việc trong một tổ chức, sở hữu và có khả năng áp dụng các kết quả nghiên cứu trong tổ chức mẹ (viện nghiên cứu, trường ĐH) vào thực tiễn sản xuất, thành lập DN để kinh doanh, thương mại hóa kết quả nghiên cứu/tài sản trí tuệ của trường ĐH, viện nghiên cứu trên thị trường. Đồng thời một số nghiên cứu đề cập đến các DN này là DN hoạt động trong ngành công nghiệp CN cao. Tóm lại: Từ tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước, kết hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, tác giả đưa ra khái niệm DN spin-off như sau: DN spin-off là loại hình DN hình thành trên cơ sở một số nhà khoa học trong tổ chức mẹ (trường đại học, viện nghiên cứu) sở hữu tài sản trí tuệ hoặc được chuyển giao tài sản trí tuệ có khả năng thương mại hóa thành lập nên DN trong trường đại học để sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ đó.
21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các điều kiện nền tảng cho sự hình thành và phát triển của spin-off. Trong phần này tác giả dựa trên khung phân tích các yếu tố tham gia trong hình thành và phát triển của spin-off trong trường ĐH của Rory P. O’shea, Harveen Chugh; Thomas J.
Có thể thấy trong sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Khuôn khổ cho việc thiết lập spin-off trong trường ĐH5 Qua việc sơ đồ các yếu tố tham gia trong quá trình thiết lập nên spin-off trong trường ĐH, các tác giả đi phân tích sâu đến các nhóm yếu tố then chốt như: đặc điểm của tổ chức, nguồn lực của tổ chức; đặc điểm cá nhân; chính sách của chính phủ, mối quan hệ công nghiệp, các mạng lưới hỗ trợ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài tác giả chỉ đi phân tích sâu vào 4 nhóm yếu tố chính đó là công nghệ, nhà khoa học, vốn đầu tư và mạng lưới quan hệ. O’shea, Harveen Chugh; Thomas J.Allen (2007), Determinants and consequences of university spin-off activity: a conceptual framework, Springer Science &Business Media 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Vấn đề công nghệ trong các spin-off - Loại hình công nghệ của spin-off trong trường đại học Theo Cooper, A.