Chương 1: Cơ sở lý luận về thu hút FDI vào các khu công nghiệp của một địa phương Chương 2:Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào Chương 3:Định hướng và giải pháp tăng cường thu hút FDI vào thủ đô Viêng Chăn, nước CHDCND Lào 5 CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT FDI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1. Đặc điểm thu hút FDIvào các khu công nghiệp của một địa phƣơng 1. Tổng quan về FDI Vốn đầu tư là yếu tố vật chất quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Nguồn vốn trong nước không thể đảm bảo cho nhu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển.
Chính vì vậy, mỗi quốc gia đều phải bổ sung nguồn vồn cho mình bằng cách thu hút vốn từ bên ngoài. FDI là một trong những kênh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, có nhiều quan niệm về FDI: Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay chi nhánh công ty. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lại định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment) là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó”.
Theo ngân hàng Thế giới (WB): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc công dân của một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ở một nước khác”. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp và hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và các đối tác đầu tư địa phương. 6 Theo Luật đầu tư nước ngoài của Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào ban hành năm 1988 được bổ sung hoàn thiện sau 2 lần sửa đổi (1994 và 2004): "Đầu tư trực tiếp nước ngoài có nghĩa là sự đưa vào Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào vốn gồm có tài sản, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của nước ngoài với mục đích để kinh doanh". Tóm lại, tuy còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, các định nghĩa trên đã nhận dạng FDI trên các khía cạnh như sau: Đây là loại hình đầu tư dài hạn bởi hoạt động đầu tư này gắn liền với việc xây dựng các cơ sở, chi nhánh sản xuất, kinh doanh tại nước tiếp nhận đầu tư.
Vốn FDI có bản chất là dòng chu chuyển vốn có thời hạn tương đối dài. Vốn FDI đi liền với công trình, dự án đầu tư ở một địa điểm cụ thể nên nó có tính ổn định tương đối cao, dễ theo dõi, dễ kiểm soát, không biến động quá bất thường như các dòng tiền ngắn hạn hoặc các khoản đầu tư gián tiếp. Nhà đầu tư nước ngoài đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi ích từ kết quả sản xuất, kinh doanh căn cứ vào mức độ góp vốn. Nhà đầu tư nước ngoài cần phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn của dự án FDI để được tham gia vào ban điều hành, tuỳ theo Luật Đầu tư của mỗi nước quy định.
Luật Đầu tư nước ngoài của Lào, số vốn tối thiểu của nước ngoài phải chiếm ít nhất 30% tổng số vốn pháp định của dự án, trừ những trường hợp do Chính phủ quy định. Có nhiều cách phân loại FDI khác nhau tùy vào từng giác độ tiếp cận. Theo quy định của pháp luật Lào, các hình thức FDI bao gồm: + Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. + Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Lào trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước CHDCND Lào và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Lào hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
7 + Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Lào. + Các hình thức BOT, BTO, BT: Hình thức BOT: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Lào; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. Hình thức BT: Hợp đồng xây dựng - chuyển giao là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Lào; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT. Thu hút FDI là hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào một quốc gia.
Hoạt động FDI được thực hiện thông qua các dự án FDI mà người ra quyết định đầu tư chính là các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, bản chất của hoạt động thu hút FDI là hoạt động thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào quốc gia mình. Tổng quan về KCN và đặc điểm thu hút FDI vào các KCN của một địa phương 1. Khái niệm KCN Có nhiều quan niệm khác nhau về KCN.
Các quan niệm này được xây dựng để thực hiện các mục tiêu nhất định như phát triển các KCN, quản lý nhà nước về KCN hoặc khai thác tác động của KCN đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo cơ quan nghiên cứu phát triển công nghiệp thuộc Liên hiệp quốc (UNIDO, 1970) đã đưa ra khái niệm về KCN như sau: KCN là khu có hàng rào ngăn cách với bên ngoài, chịu sự quản lý riêng, tập trung tất cả các doanh nghiệp 8 hoạt động theo bất kỳ cơ chế nào (xuất khẩu hàng hóa và hoặc tiêu thụ nội địa), miễn là phù hợp với các quy định quy hoạch về vị trí và ngành nghề, một phần đất nằm trong KCN có thể dành cho khu chế xuất (KCX). Khu chế xuất là khu có một hoặc nhiều doanh nghiệp đăng ký cơ chế chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và các dịch vụ cho hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được rào ngăn cách với khu vực nội địa Tại diễn đàn quốc tế diễn ra bởi UNIDO năm 1977, các chuyên gia của UNIDO đã đưa ra khái niệm về KCN tổng hợp như sau: KCN tổng hợp là khu chuyên sản xuất hàng hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở… có ranh giới địa lý xác định, gồm những khu vực dành cho công nghiệp, các dịch vụ liên quan, thương mại và dân cư, khu vực công nghiệp có thể là KCN, KCX, khu công nghệ cao (KCNC). Tại Lào, theo quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế- thương mại, đặc khu kinh tế như sau:Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định Trong giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, quan niệm về KCN được mở rộng.
Các giao dịch kinh tế không phải chỉ điều chỉnh bằng các quy định pháp lý trong nước mà còn bằng cả các quy định pháp lý quốc tế đặc biệt là những nguyên tắc của WTO. WTO cho phép thành lập các KCN và khu chế xuất với những ưu đãi không được trái với các nguyên tắc điều chỉnh của WTO. Qua các khái niệm được quy định trong luật và từ thực tế hình thành các KCN trong những năm trước đây ta có thể hiểu: KCN là một vùng lãnh thổ xác định, được phát triển có hệ thống, theo một kế hoạch tổng thể, nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp với hệ thống kết cấu hạ tầng, tiện ích công cộng và các dịch vụ hỗ trợ phát triển ở mức độ khác nhau, được hưởng chính sách và cơ chế quản lý thích hợp tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cũng như mức độ hội nhập của quốc gia đó. Đặc điểm KCN Đặc điểm của KCN được xem xét dưới các khía cạnh như sau: Về mặt pháp lý: KCN tập trung là một phần lãnh thổ của nước sở tại, các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp tập trung chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại.
Ví dụ, các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN tập trung ở Lào chịu sự điều chỉnh của pháp luật Lào, trong đó bao gồm: Qui chế về KCN & KCX, Luật đầu tư, Luật lao động… - Về mặt kinh tế: KCN tập trung là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp.