MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Giáo dục hiện đại đòi hỏi phải đào tạo ra những con ngƣời ngoài có tri thức, kĩ năng còn phải có những năng lực nhận biết vấn đề và giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Học sinh phải là ngƣời chủ động, tự giác, sáng tạo, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức chứ không phải là ngƣời thụ động tiếp thu tri thức, đồng thời phải chung tay giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu. Giáo dục Việt Nam trong thời kì hội nhập không nằm ngoài xu thế này.
Điều 4 Luật Giáo dục Việt Nam (1998) nêu: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Chính vì nhận thức đƣợc tầm quan trọng của một nền giáo dục trong thời kì hội nhập khu vực và quốc tế, Đảng và Nhà nƣớc ta đã chỉ đạo toàn ngành giáo dục chủ động đổi mới ở tƣ tƣởng, quan niệm, chính sách, chiến lƣợc, chƣơng trình, phƣơng pháp dạy học. Bộ môn Ngữ văn không nằm ngoài yêu cầu phải đổi mới toàn diện đó. Cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng đã căn dặn: “dạy văn như cũ không có lợi cho đào tạo và không có lợi cho dạy văn”.
Tuy nhiên, đổi mới phƣơng pháp dạy học văn không phải chỉ là đổi mới ở mặt hình thức, chỉ là một chút “gia giảm” (J.Vial) mà phải đổi mới triệt để. Trong điều kiện dạy học hiện nay, rất nhiều các giáo sƣ, tiến sĩ, các chuyên gia, các thầy cô giáo ngành Ngữ văn đã tích cực tìm tòi, nhiều sáng kiến, nhiều cách thức giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức. Dạy học môn Ngữ văn không giống nhƣ dạy học các môn khoa học khác, nó giống nhƣ một môn nghệ thuật, một “trò diễn bằng ngôn từ”, lấy hoạt động làm trung tâm. Đặc biệt là khi giáo viên dạy các bài thơ trữ tình, 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giờ học đó phải kích thích đƣợc trí tƣởng tƣợng, tính nhân văn, thẩm mĩ của tác phẩm bằng cả âm thanh và tƣ tƣởng.
Bởi vì bản chất của thơ rất đa dạng, với nhiều biến thái và màu sắc phong phú. Thơ tác động đến ngƣời đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc, suy nghĩ cụ thể, vừa gián tiếp qua liên tƣởng và những tƣởng tƣợng phong phú, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động của ngôn từ giàu nhạc điệu. Cũng chính vì điều này mà có thể khẳng định, đối với học sinh, thơ khó tiếp nhận hơn. Đặc biệt là các tác phẩm Thơ mới.
Thơ mới bộc lộ những “bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm”, thế giới nội cảm phức tạp của nhà thơ trƣớc cuộc sống. Theo Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tinh thần cốt yếu của Thơ mới chính là “chữ tôi, với cái nghĩa tuyệt đối của nó”. Thể hiện cái tôi đặc sắc, rõ nét, cái bề sâu trong tâm hồn con ngƣời “mang theo quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân”, Thơ mới có nhiều sự cách tân táo bạo, mới mẻ về ngôn từ, cách diễn đạt, tinh thần cá thể, giai điệu… “như một luồng sinh khí thổi vào văn học cận đại đã già cỗi bởi những quy ước nặng nề”. Trong lịch sử văn học nƣớc nhà, Thơ mới đánh dấu một bƣớc đi lớn của văn học, là một giai đoạn phát triển và có sự cách tân táo bạo về ngôn từ, thể thơ, tƣ tƣởng, chủ đề.
Thơ mới vẫn là một địa hạt thơ cần đƣợc khám phá, cần đƣợc cảm nhận, cần đƣợc hiểu thấu đáo hơn. Chính vì vậy mà tiếp nhận Thơ mới không phải là điều dễ dàng đặc biệt là đối với các em học sinh. Với lợi thế của mình là thông qua việc đọc và các hoạt động hỗ trợ việc đọc, tác động tới ngƣời đọc bằng cả âm thanh và tƣ tƣởng, phƣơng pháp đọc sáng tạo góp phần phát triển đƣợc sự cảm thụ sâu sắc và sự cảm thụ trực tiếp của học trò trong bài giảng đối với các tác phẩm trữ tình đặc biệt là Thơ mới. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới, chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông”.
Lịch sử vấn đề Trong nghiên cứu, Thơ mới dƣờng nhƣ là đề tài bất tận của các học giả nhƣng chủ yếu các nhà nghiên cứu đều tập trung vào lĩnh vực phê bình, nghiên cứu dƣới góc độ văn học mà chƣa tập trung nghiên cứu về phƣơng pháp giảng dạy các tác phẩm Thơ mới trong chƣơng trình phổ thông. Hiện chƣa có một chuyên khảo hoàn chỉnh nào về vấn đề này. Ngay cả phƣơng pháp đọc sáng tạo, một phƣơng pháp có nhiều lợi thế nhƣng chƣa đƣợc chú ý, cũng có rất ít nghiên cứu về nó. Điểm lại chỉ có cuốn Phương pháp đọc diễn cảm của nhóm tác giả dƣới sự chủ biên của Naiđixốp; một phần nhỏ đọc diễn cảm đƣợc nói tới trong cuốn Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, Nhà xuất bản quốc gia, 2001.
Đáng chú ý là cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường của PGS.TS Nguyễn Viết Chữ, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2009 đã chỉ rõ vai trò quan trọng của phƣơng pháp đọc sáng tạo trong các phƣơng pháp dạy học văn. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở hệ thống lí thuyết chứ chƣa ứng dụng cho việc thực nghiệm dạy học từng tác phẩm cụ thể. Ngoài ra còn có những ý kiến quý báu về đọc diễn cảm của PGS.TS Vũ Nho; một vài tài liệu gần đây viết về đọc hiểu lại nghiêng sang hƣớng phân tích văn học chƣa chú ý tới lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo. Quan sát chung cho thấy, nghiên cứu về việc tận dụng lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo vào dạy học các tác phẩm Thơ mới trong chƣơng trình Ngữ văn 11, trung học phổ thông là một hƣớng nghiên cứu hoàn toàn mới mẻ, có tính ứng dụng đối với công tác giảng dạy của giáo viên, phù hợp với đặc trƣng loại thể của trào lƣu thơ nói chung và những bài ở lớp 11 nói riêng.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục đích nghiên cứu Tận dụng lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới thuộc chƣơng trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Tận dụng lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo trong dạy học.
Phạm vi, đối tượng nghiên cứu Các tác phẩm Thơ mới trong chƣơng trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông. Cụ thể là đi sâu vào 3 tác phẩm: - Vội vàng (Xuân Diệu) - Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) - Tràng giang (Huy Cận) 5. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xây dựng hệ thống lí luận về phƣơng pháp đọc sáng tạo và những lợi thế của nó trong dạy học thơ và Thơ mới. - Nghiên cứu thực trạng dạy học Thơ mới và giải pháp tận dụng lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới - Thực nghiệm: Soạn giáo án theo phƣơng pháp đọc sáng tạo, thực nghiệm đối chứng.
Giả thuyết khoa học Nếu giải quyết tốt việc tận dụng đƣợc lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới thì đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu trong dạy học thơ nói chung và Thơ mới nói riêng. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phƣơng pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lí luận Sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu lí thuyết kết hợp với đối chiếu thực tế dạy học Thơ mới ở Trung học phổ thông, cụ thể ở lớp 11.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phƣơng pháp điều tra, khảo sát: Đƣợc áp dụng trong việc khảo sát thực trạng dạy học Thơ mới trong trƣờng Trung học phổ thông, cụ thể ở lớp 11. - Phƣơng pháp thực nghiệm: Thực nghiệm sƣ phạm để xác định tính khả thi và chứng minh hiệu quả của việc tận dụng lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới, Ngữ văn 11. Đóng góp của luận văn - Góp phần vào việc đổi mới phƣơng pháp dạy học văn có hiệu quả. - Đề xuất một hƣớng dạy học phù hợp với loại thể thiết thực có hiệu quả đối với các tác phẩm Thơ mới nói riêng và thơ trữ tình nói chung.
Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Đọc sáng tạo và những lợi thế trong dạy học thơ trữ tình, Thơ mới Chƣơng 2: Thực trạng dạy học Thơ mới và giải pháp tận dụng lợi thế của phƣơng pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: ĐỌC SÁNG TẠO VÀ NHỮNG LỢI THẾ TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH, THƠ MỚI 1. Các phƣơng pháp dạy học văn, phƣơng pháp đọc sáng tạo 1. Học sinh với môn Ngữ văn Trong lịch sử, thời Khổng Tử ở Trung Hoa và Socrat ở phƣơng Tây, học sinh đã là trung tâm trong giờ học. Bằng chứng là sự đối thoại tự nhiên giữa trò và thầy mà chúng ta có hai tác phẩm Luận ngữ (Khổng Tử) và Đối thoại (Socrat).
Ngày nay, lí luận dạy học hiện đại đề cao định hƣớng dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Ngƣời thầy chỉ là ngƣời cố vấn, ngƣời hƣớng dẫn còn học sinh mới là ngƣời tự mình chiếm lĩnh tri thức. Lấy ngƣời học làm trung tâm sẽ phát huy đƣợc sức mạnh cá nhân của các em, giúp các em hiểu sâu, nhớ lâu, thấy việc học trở nên hấp dẫn, kích thích sự sáng tạo. Tuy nhiên, cách dạy này tốn nhiều thời gian mà lƣợng kiến thức mà học sinh nhận đƣợc khá ít.
Sự hài hòa vẫn đƣợc coi là chuẩn mực cho mọi công việc. Không quá thiên vai trò của ngƣời thầy, cũng không quá đề cao vai trò của học sinh mà cần hài hòa sự tƣơng tác thầy – trò nhất là đối với môn Ngữ văn, đặc biệt hơn là trong những giờ dạy văn khi “không ai thay thế đƣợc ông thầy trong nhà trƣờng” (V. Bởi vì giờ dạy văn chính là một giờ học mang tính nghệ thuật, ngƣời giáo viên dạy văn đồng thời là một nhà khoa học, nhà sƣ phạm nhƣng cũng là một nhà nghệ sĩ.