CHƯƠNG I C ơ SỞ LÝ LUẬN I. Lịch sử các n g h iên cứu về tâm th ế trên th ế giới và ở V iệt N am. N g h iên cứu về tâm th ế trên thê giới Tâm th ế là m ột khái niệm khoa học có lẽ còn xa lạ với đa số người, hoặc ít nhất nó cũng không được biết đến nhiều bằng khái niệm thái độ. Trong nhiều nghiên cứu, tâm thế thường được đồng nhất với thái độ, và điều này không phải k h ông có căn cứ.
Sau đây chúng ta sẽ lần lượt điểm qua m ột số trong các nghiên cứu ấy. Những người đầu tiên sử dụng khái niệm “ thái đ ộ ” như một đặc tính quan trọng của các vấn đề xã hội là u. Thom as và Ph. Znaniecki ( M ỹ ) cho rằng: “ thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với m ột giá trị”.
Kết luận của hai ông được rút ra sau khi nghiên cứu sự thích ứng của người nông dân Ba Lan ở M ỹ vào năm 1918. Hai ông đã chứng m inh sự thích ứng phụ thuộc vào hai yếu tố: Sự phụ thuộc của cá nhân với tổ chức xã hội và sự phụ thuộc của các tổ chức xã hội đối với cá nhân.Sự phụ thuộc này thể hiện m ối tác động qua lại giữa nhân cách và xã hội. T hom as và Ph. Znaniecki đã đặt tên cho tính chất hai m ặt của m ối quan hệ trên là “ giá trị xã h ộ i”( đối với tổ chức xã hội ) và “ tâm th ế xã h ội” ( attitude - đối với tính cách cá nhân ).
Vì vậy, khái niệm thái độ có nghĩa như là những rung cảm tâm lý của cá nhân về giá trị, ý nghĩa của kh ách thể x ã hội hoặc như trạng thái nhận thức của cá nhân đối với m ột vài giá trị x ã hội. T ho m as và Ph. Znaniecki, xuất hiện hàng loạt các nghiên cứu khác nhau về thái độ. N ăm 1935, trong một bài viết tổng kết các nghiên cứu về thái độ, G.
Allport, nhà tâm lý học Mỹ, đã liệt kê 17 định nghĩa thái độ. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến nay, con số đó lớn hơn rất nhiều. Allport cho rằng “ thái độ là trạng thái sẵn sàng về m ặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống m à nó có mối quan h ệ ” (11, 319 ). Từ định nghĩa này, có thể hiểu thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tâm sinh lý để cá nhân tham gia vào hoạt động.
T hí n gh iệm kinh điển được dẫn chứng nhiều nhất khi bàn về thái độ là thí nghiệm của R ichard LaPiere vào năm 1934. Ông nghiên cứu m ối quan hệ giữa thái độ và h àn h vi và đi đến kết luận rằng: Đ ó kh ô n g phải là mối quan hệ thẳng tiến, tức m ột thái độ chưa chắc đã dẫn đến m ột hành vi tương ứng với nó. N ghiên cứu của Richard LaPiere xảy ra tại thời đ iểm m à thành kiến đối với người C hâu Á đ an g rất phổ biến, ông đã cùng với những người bạn Trung Q uốc của m ình làm m ộ t chuyến du lịch xuyên Mỹ. Chỉ có m ột trong số 251 nhà hàng và k h ách sạn từ chối phục vụ họ.
N gạc nhiên với điều này, LaPiere quyết định k h á m phá thái độ của người M ỹ đối với người C hâu Á theo một cách khác. Sau ch uyến đi ông gửi thư cho tất cả những nhà h àng và khách sạn m à ông và bạn ông đã đến, ông hỏi rằng liệu họ có thể phục vụ những người khách du lịch T rung Quốc. Kết quả là: trong số những nơi gửi phúc đáp cho LaPiere, m ột trường hợp trả lời “ có” ; hơn 90% khẳng định “ k h ô n g ” ; số còn lại chưa quyết định. K ết quả này mặc dù còn bị ảnh hưởng bởi nhiều vếu tố, do đó chưa thật k h ách quan, nhưng đã 1Ĩ 1Ở đường cho nhiều nghiên cứu tương tự.
Chẳng hạn, đến n ẳ m 1969, A llan W icker, sau nhiều năm nghiên cứu đã kết luận: thái độ c ủ a con người hầu như chẳng dự báo gì hành vi c ủ a họ. Nghiên cứu của Z an n a và F azio (1982), của DeBono và Snyder (1995) bổ sung thêm: thái độ chỉ dự báo hành vi trong những điều kiện nhất định m à thôi 26, 262) K hi n ghiên cứu sự thay đổi thái độ trong giao tiếp (vốn là lĩnh vực rất thú vị của thái độ), các nhà tâm lý học xã hội của trường Đại họ c Y ale của M ỹ đã đưa ra cách tiếp cận về thay đổi thái độ với công thức “ai nói gì với ai” 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cách tiếp cận này (Yale Attitude Change Approach) xác định 3 điểm chính: -Ai (nguồn giao tiếp): + Người nói có uy tín dễ dàng thuýêt phục người nghe hơn là người nói k h ô n g có ho ặc thiếu uy tín ( Hovland và W eiss, 1951) + Người nói hấp dẫn về thể chất hoặc tính cách dễ dàng thuyết phục người nghe hơn người nói không hấp dẫn. (Eagly và Chaiken, 1975; Petty, W eg en er và Fabrigar, 1997) - Cái gì (Nội dung giao tiếp) + C on người dễ bị thuyết phục bởi những thông điệp được thiết k ế khô ng nh ằm gây ảnh hưởng đến họ.
(Petty và Cacioppo, 1986; W alster và Festinger, 1962) + G iao tiếp hai chiều tốt hơn giao tiếp m ột chiều. + Con người thường bị ảnh hưởng bởi những gì họ nghe đầu tiên, nên các thông tin cần được đưa ra trước khi thảo luận. T rong những trường hợp nhiều thông tin được đưa ra liên tiếp và có thời gian nghỉ giữa chúng, thông tin quan trọng nên trình bày sau bởi người ta nhớ cái sau tốt hơn cái trước. -Với ai (Người nghe) +N gười nghe bị làm rối trí trong giao tiếp dễ bị thuyết phục hơn.
+ N gười k é m thông m inh bị ảnh hưởng dễ hơn người thông minh; người có sự tự k h ẳ n g định, tự đánh giá ở mức trung bình có xu hướng dễ bị thuyết phục hơn người có yếu tố này ở mức thấp hoặc cao. (R hodes và W ood, 1992) + N h ữ ng người ở ngưỡng tuổi 18 đến 25 dễ thay đổi thái độ, vượt qua ngưỡng này, thái độ của họ ổn định và chống lại sự thay đổi. ( 26, 246 - 247) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com N hư vậy, có thể thấy nghiên cứu về thái độ của tâm lý học M ĩ đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là tính ứng dụ ng của nó trong đời sống hàng n g à y của con người. Khi nghiên cứu nhân cách trong tâm lý học xã hội, vấn đề tâm thế xã hội có m ột vị trí quan trọng.
Kinh n g h iệm cá nhân thể hiện qua hành động và hành vi của cá nhân như th ế nào có liên q u a n đến tâm th ế xã hội, chỉ có nghiên cứu cơ c h ế hình thành tâm th ế mới có thể hiểu cái gì điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người. Trước hết cần p hải phân tích nhu cầu và động cơ nào thúc đẩy nhân cách hoạt động. Cơ c h ế b ê n trong của hành vi con người chính là sự phù hợp giữa nhu cầu và động cơ của họ. V ấn đề đặt ra là vì sao con người trong những hoàn cảnh n h ất định lại hàn h động theo cách này hoặc cách khác, vì sao con người lại hướng đến chọn đ ộ n g cơ này.
Chúng ta phải xuất phát từ khái niệm tâm th ế xã hội. T h uyết tâm th ế xã hội của nhà tâm lý học Liên X ô D.Uznatze là đóng góp đ á n g kể cho việc hình thành thái niệm thái độ m ột cách khoa học. Ông định n g h ĩa : “ T âm th ế là trạng thái cơ thể xuất hiện ở cá nhân do sự tác động đồng thời của n hu cầu nhất định và hoàn cảnh hợp với c hún g” (1, 142). Định nghĩa n ê u ra b a yếu tố chính: - T ính tích cực tâm lý cá nhân - N hu cầu - H o àn cảnh thoả m ãn nhu cầu M ô hình sau thể hiện mối quan hệ giữa ba yếu tố: H ình 1.
Mối quan hệ giữa ba yếu tố trong tâm thế LUAN VAN CHAT LUONG download 11 : add luanvanchat@agmail. Uznatze đã nêu lên đặc điểm của tâm th ế với tính cách như trạng thái tâm lý cá nhân, m ặt khác lại xem xét tâm th ế như là trạng thái của cá nhân trong đó phản ánh hoàn cảnh nhất định. Tàm thế là hình thức phản ánh mối quan hệ cá nhân với hoàn cảnh. Điều này cũng đã được thể hiện trong sơ đồ hành vi cá nhân s - o - R.
Hình 1 phản ánh nội dung cơ bản của lý luận tâm thế: tâm th ế xuất hiện ở cá nhân bằng cách thống nhất nhu cầu với hoàn cảnh phù hợp với cá nhân. Nói đúng hơn, khi hoàn cảnh phù hợp với nhu cầu được lặp lại nhiều lần thì xuất hiện tâm thế cá nhân. Tuy nhiên, quan điểm trên cũng bộc lộ hạn c h ế là chỉ đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh lý đơn giản m à không tính đến các hình thức hoạt động phức tạp, cao cấp của con người; cũng như việc Uznatze bỏ qua sự tác động nhiều chiểu của các yếu tố xã hội trong việc quy định hành vi con người và vai trò của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội. Bên cạnh học thuyết tâm th ế D.Uznatze, các nhà tâm lý học Xô Viết còn có những công trình nghiên cứu về thái độ dưới tên gọi “ thái độ chủ quan của cá n h â n ” do Lazuski đề xuất khi nghiên cứu về tính cách.
Trong các bài viết năm 1909-1910 về vấn đề năng lực, cuốn sách “Phân loại nhân các h ” (1917,1924) và m ột số nghiên cứu khác, ông nêu ra quan niệm về thái độ tâm lý (chủ quan) của con người với môi trường.