Chương 1: Nhận diện yếu tố tâm linh trong đời sống và trong văn học Việt Nam. Chương 2: Sự hiện diện và giá trị nội dung tư tưởng của của yếu tố tâm linh trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu. Chương 3: Yếu tố tâm linh trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 nhìn từ góc độ thi pháp - nghệ thuật. download by : skknchat@gmail.com 11 NỘI DUNG Chƣơng 1: NHẬN DIỆN YẾU TỐ TÂM LINH TRONG ĐỜI SỐNG VÀ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM 1.
Về khái niệm “tâm linh” và “văn hóa tâm linh” 1. Khái niệm “tâm linh” Có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về khái niệm “tâm linh”. Đào Duy Anh trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển đã định nghĩa tâm linh 心 靈 là “cái trí tuệ tự có trong lòng người”, và đối chiếu nó với một từ tiếng Pháp tương đương là “intelligence” mà ngày nay được hiểu là trí tuệ, trí năng [1]. Thiều Chửu không ghi từ “tâm linh” nhưng có một sự xác định rất hay: “thần” 神 và “linh” 靈 như cặp đối lập âm - dương: tinh anh của khí dương là “thần”, tinh anh của khí âm là “linh” [7].
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, tâm linh là “1. Khả năng biết trước một biến cố nào đó sẽ xẩy ra với mình, theo quan niệm duy tâm. Vũ Tự Lập trong cuốn Văn hoá và cư dân đồng bằng sông Hồng nêu quan niệm “Thế giới tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn tới. Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng đó” [44].
Nguyễn Hoàng Phương trong cuốn Tích hợp đa văn hoá Đông - Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai đã đưa ra khái niệm: “Tâm linh là lễ nghi ma thuật của các tộc người nguyên thuỷ; là bói toán, tiên tri thời cổ đại; là tôn giáo, thần học thời trung cổ; là ngoại cảm, là sự hài hoà của vũ trụ, một phần là biểu hiện của trí tuệ đại vũ trụ thời hiện đại”[63]. Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Văn hoá tâm linh đã định nghĩa: "Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng download by : skknchat@gmail.com 12 trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [8, tr. Phạm Ngọc Quang trong bài “Góp phần tìm hiểu khái niệm tâm linh, mối quan hệ của nó với khái niệm phản ánh” đã nêu: “Tâm linh là khái niệm dùng để chỉ “niềm tin vào khả năng tồn tại của vong (người sau khi chết) với khả năng nhận thức của vong, tin vào khả năng đặc biệt của con người có thể tiếp xúc với vong.
Nhờ vậy, có thể giúp con người đang sống biết được những thông tin về một số vấn đề đã, đang và sẽ diễn ra, từ đó, con người nhận thức và hoạt động có hiệu quả cao hơn” [65, tr. Nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc trong một công trình nghiên cứu con người, cũng tìm ra được cách cắt nghĩa: “Có thể coi tâm linh là một khái niệm tâm lý nói lên sự gắn kết ba phạm trù thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai. Chỉ ở con người mới có các phạm trù thời gian và sự gắn kết chúng lại với nhau” [17]. Thuật ngữ “tâm linh” trong tiếng Việt có hai từ tiếng Anh tương đương là psychic (theo nghĩa các hiện tượng dị thường, huyền bí) và spiritualism (với hai nghĩa: 1/ Niềm tin tôn giáo - triết học về sự tồn tại sau cái chết; và 2/ Tâm trí, tâm hồn, tinh thần).
Thuật ngữ “Psychic” được dùng nhiều hơn với nghĩa “tâm linh”. Các học giả phương Tây nghiên cứu tâm linh với tư cách các hiện tượng dị thường huyền bí; những trạng thái tâm lý đặc biệt; hoặc những nguồn năng lượng đặc biệt của con người (dòng điện trường sinh học, trực giác), thậm chí cả những bí ẩn của Thiền học Phật giáo và Yoga Ấn Độ. Nhiều công trình nghiên cứu đáng chú ý về những vấn đề này được các nhà tâm lý học, thần học, vật lý học công bố. Tóm lại, các định nghĩa về “tâm linh” hiện có rất phong phú đa dạng.
Tuy các cách hiểu và góc tiếp cận có khác nhau nhưng tựu trung lại các định nghĩa bao gồm hai loại: một là định nghĩa miêu tả và hai là định nghĩa nêu đặc trưng. Định nghĩa miêu tả nêu các biểu hiện của “tâm linh” như niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng, quan niệm âm - dương, bói toán, tiên tri, ngoại cảm, thần giao cách cảm. Còn định nghĩa nêu đặc trưng thì chỉ ra những nét riêng biệt, tiêu biểu của download by : skknchat@gmail.com 13 “tâm linh” như “cái thiêng liêng”, cái “cao cả”, “cái huyền bí”…. nhằm phân biệt “tâm linh” với các hiện tượng tinh thần khác.
Từ những cách hiểu trên, chúng tôi tạm đưa ra cách hiểu khái niệm “tâm linh” như sau: Tâm linh là thế giới của những điều bí ẩn, được hình thành bởi niềm tin về những giá trị cao cả, thiêng liêng mà con người luôn hướng tới và khát khao đạt được. Cũng cần nói thêm, vì “tâm linh” là sản phẩm của niềm tin nên thế giới tâm linh tồn tại trong đời sống tinh thần cá nhân và liên cá nhân. Nó chỉ được biểu hiện ra trong sinh hoạt văn hóa tinh thần. Vậy, đời sống tâm linh chính là đời sống hướng về những giá trị tinh thần thuần khiết, thiêng liêng, cao cả được đúc kết qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc và nhân loại.
Đời sống tâm linh chính là một hình thái đặc biệt của ý thức con người và ý thức xã hội. Không thể có đời sống tâm linh, nếu như con người không có ý thức. Tuy nhiên, ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn. Do đó, không phải bất cứ điều gì thuộc về đời sống ý thức của con người cũng đồng thời thuộc về đời sống tâm linh.
Có thể thấy rằng, tính chất quan trọng nhất của đời sống tâm linh trước hết là sự thiêng liêng, cao đẹp. Thế giới tâm linh phải là một thế giới mà ở đó, chỉ những gì cao cả, lương thiện, đẹp đẽ mới có thể vươn tới và tồn tại. Không biết từ bao giờ, những vấn đề thuộc về đời sống tâm linh đã đồng hành cùng với con người và xã hội loài người. Trong đời sống xã hội cũng như trong nghiên cứu chuyên ngành, dù khoa học có phát triển đến đâu cũng chưa thể khái quát hết những biểu hiện vô cùng phong phú, đa dạng của thế giới tâm linh, chính vì vậy khó có thể có một định nghĩa bao quát hết nội hàm hai chữ “tâm linh”.
Tuy nhiên cách hiểu trên đây hy vọng khả dĩ đáp ứng nội dung nghiên cứu “yếu tố tâm linh” trong đề tài này. Bên cạnh đó khi nhắc đến tâm linh cần chú ý các khía cạnh sau: Thứ nhất, tâm linh là một hình thái ý thức, gắn với ý thức con người. Thứ hai, hạt nhân cơ bản của tâm linh là niềm tin, không có niềm tin thì không có tâm linh. Niềm tin theo Nguyễn Đăng Duy là “sự tín nhiệm, khâm download by : skknchat@gmail.com 14 phục của một con người với một con người, một sự việc, một học thuyết, một tôn giáo được thể hiện ra bằng hành động theo một lẽ sống” [8, tr.
Niềm tin có nhiều cấp độ: niềm tin trao đổi, niềm tin lý tưởng và niềm tin tâm thức. Trong đó, tâm linh gắn với niềm tin tâm thức, là niềm tin thiêng liêng vì nó có sự “hòa quyện cả tình cảm và lí trí, dẫn đến sự say đắm, say sưa tự nguyện hành động theo niềm tin ấy” [8, tr. Đó là niềm tin thiêng liêng về tổ tiên, niềm tin về Mẫu, Phật, Chúa, niềm tin về các thần thành hoàng v. Niềm tin thiêng liêng do vậy, được xem là yếu tố then chốt tạo nên đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh đúng nghĩa và trang trọng.
Thứ ba, tâm linh tồn tại trên nhiều phạm vi: đời sống cá nhân, gia đình, cộng đồng, làng xã, Tổ quốc, trong văn học nghệ thuật, trong tín ngưỡng, tôn giáo… Thứ tư, hướng đến tâm linh là con người hướng đến những cái cao cả, hướng đến Chân - Thiện - Mĩ, để có một đời sống tinh thần tốt đẹp hơn. Khái niệm “văn hóa tâm linh” “Văn hóa tâm linh” là thuật ngữ xuất hiện nhiều khoảng mười lăm năm gần đây. Đặc biệt từ sau khi một số nhà nhân học, tâm lí học, khoa học xã hội quốc tế thừa nhận tâm linh là một trong bốn thuộc tính của con người (con người xã hội, con người sinh học, con người tâm lí, con người tâm linh) thì thuật ngữ này càng được dùng phổ biến hơn. Về cách hiểu khái niệm “văn hóa tâm linh”: Cho đến nay, trong nghiên cứu cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, có nhiều cách hiểu khác nhau về “văn hóa tâm linh”.
Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Văn hóa tâm linh, nhà xuất bản Văn hóa thông tin 2001 đưa ra khái niệm “văn hóa tâm linh” khá toàn diện: “Văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [8, 29]. download by : skknchat@gmail.TS Đặng Văn Bài trong bài “Tản mạn về văn hóa tâm linh của người Việt” lại cho rằng: “Văn hoá tâm linh là thái độ ứng xử văn hoá của chúng ta đối với các lực lượng siêu nhiên, thần linh, với những người đã khuất” [3]. Trần Đình Sử trong “Văn học và văn hóa tâm linh” viết: “Khi ghép tâm linh vào văn hóa, thì khái niệm văn hóa tâm linh là hình thái văn hóa của một tộc người gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian (folklore) và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật như sự thăng hoa, phút xuất thần, “tia chớp” cảm hứng sáng tạo, trí tuệ phát sáng của nhà khoa học và nghệ sĩ” [68]. Trong luận văn này chúng tôi xuất phát từ cách hiểu khái niệm “văn hóa” rồi hợp nhất hai khái niệm “văn hóa” và “tâm linh” để hình thành thành cách hiểu khái niệm “văn hóa tâm linh”.
Mặc dù có hàng trăm định nghĩa khác nhau về “văn hóa”, nhưng chúng tôi xin đề cập đến định nghĩa về “văn hoá” do tổ chức văn hoá thế giới UNESCO công bố năm 1997: “Văn hoá là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần tuý bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống tín ngưỡng” [8,tr.