Chương 1 TỔNG QUAN SVTH: Nguyễn Thị Hạnh – Lâm Ngọc Hồng Hiếu Nghành Công Nghệ May 2015 - 2020 Đồ án Tốt nghiệp -3- 1.1 Lý do chọn đề tài Giáo dục và Đào tạo có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của đất nước và xã hội. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập vào cộng đồng Quốc tế. Từ đó, anh văn là công cụ không thể thiếu trong lĩnh vực giao tiếp, hội nhập. Nó là công cụ, là chìa khóa mở cánh cửa vào thương trường quốc tế và sự thành công.
Do đó, từ những năm 90, Đảng và nhà nước ta đã thấy tầm quan trọng trong việc học ngoại ngữ, nên đã quyết định đưa môn Anh Văn trở thành môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo và trong các kỳ thi quan trọng như tốt nghiệp, đại học, cao đẳng, cao học,… Ngoài trình độ chuyên môn, kỹ năng giao tiếp người học cần phải Anh văn chuyên ngành trong lĩnh vực mình làm việc. Từ đó Anh văn chuyên ngành rất là quan trọng đối với sinh viên. Nhưng hiện nay vẫn còn bất cập nhiều trong quá trình học anh văn, đặc biệt là Anh văn chuyên ngành đối với sinh viên. Đó là giữa kiến thức và phương pháp giảng dạy không tạo được sự hứng thú đối với người học.
Và luật giáo dục năm 2005 đã ghi: “Phương pháp dạy học phải phát huy tích cực chủ động, tư duy, sáng tạo của người học, sinh viên. Nhà giáo giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức điều khiển, định hướng quá trình dạy học; còn người học giữ vai trò chủ động trong quá trình học tập và tham gia nghiên cứu khoa học. Trước tình hình đó, đòi hỏi người giảng viên phải cải tiến, nâng cao phương pháp giảng dạy hơn. Với tính cấp thiết như thế người nghiên cứu mạnh dạn chọn đề tài: “Xây dựng tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành may theo hướng tích cực hoá người học”.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Xây dựng tài liệu giảng dạy Anh văn chuyên ngành theo hướng tích cực hoá người học nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo trong học tập và nâng cao chất lượng Anh văn chuyên ngành Công nghệ may tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng tài liệu giảng dạy Anh văn chuyên ngành may theo hướng tích cực hoá người học - Khách thể nghiên cứu: Hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên ngành may tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh – Lâm Ngọc Hồng Hiếu Nghành Công Nghệ May 2015 - 2020 Đồ án Tốt nghiệp -4- 1.4 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu và xây dựng bài giảng anh văn chuyên ngành may kèm theo phát âm từ vựng, giáo án điện tử kèm theo các mini game, các bài tập ứng dụng, các câu hỏi ôn tập và bộ bài tập kiểm tra theo hướng tích cực hóa người học tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.5 Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: để làm rõ cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu - Phương pháp phỏng vấn điều tra bằng bảng khảo sát thông qua sinh viên ngành may tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM để nắm rõ tình hình học tập thực tế của môn anh văn chuyên ngành. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Đánh giá và phân tích các tài liệu nghiên cứu và kết quả khảo sát. SVTH: Nguyễn Thị Hạnh – Lâm Ngọc Hồng Hiếu Nghành Công Nghệ May 2015 - 2020 Đồ án Tốt nghiệp -5- Chương 2 CỞ SỞ LÝ LUẬN SVTH: Nguyễn Thị Hạnh – Lâm Ngọc Hồng Hiếu Nghành Công Nghệ May 2015 - 2020 Đồ án Tốt nghiệp -6- 2.1 Sơ lược lịch sử về dạy học theo hướng tích cực hóa người học 2.1 Dạy học theo hướng tích cực hóa người học trên thế giới Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristot,… đã từng nói đến tầm quan trọng của việc phát huy tích cực, chủ động của sinh viên và đã nói đến nhiều biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức. Trong thời đại Phục Hưng từ thế kỷ 16 cho đến thế kỷ 19 có nhiều tác giả tiêu biểu đề cập đến quan điểm này, cụ thể: J.A Komenxki (John Amos Comenius, 1592-1670) là nhà Tiệp Khắc yêu nước, nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỷ 17 đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt sinh viên phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật và hiện tượng.
Theo Komenxki: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát tiển nhân cách, …hãy tìm ra phương pháp cho phép giảng viên dạy ít hơn, sinh viên học nhiều hơn”.I Rousseau (Jean Jacques Rousseau, 1712-1778) là một nhà giáo dục lớn của pháp. Ông cho rằng phải hướng sinh viên tích cực dành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.D Ushinsky (Konsntantin Dmitrievich Ushinsky, 1824-1871), nhà sư phạm dân chủ Nga, người sáng lập giáo dục Nga. Usinxki nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc giảng viên điều khiển, dẫn dắt sinh viên tự chiếm lĩnh kiến thức,… Từ thế kỷ 20, quan điểm này được nhà giáo được nhà giáo dục quan tâm rộng rãi trong phạm vi toàn quốc. Có thể kể ra các trường phái cơ bản sau: Liên Xô và các nước xã hội Chủ Nghĩa: Từ sau các mạng tháng Mười Nga, các nhà giáo dục Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu quan điểm dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên như là M.
Các tác giả đã phân tích tính tích cực nhận thức của người học dưới góc độ khác nhau của nhà tâm lý giáo học và đưa ra nhiều biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của sinh viên trong các giai đoạn của quá trình dạy học. Mỹ: Đầu thế kỷ 20, diễn ra một cuộc phong trào cải cách giáo dục rộng lớn. Tư tưởng định hướng quan trọng cuộc cải cách này là chuyển từ dạy học lấy người dạy làm trung tâm sang quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, nhằm phát huy tính tích cực của sinh viên trong quá trình dạy học. Các tác giả của quan điểm này là J.
Roger, Skinner,… Dạy học SVTH: Nguyễn Thị Hạnh – Lâm Ngọc Hồng Hiếu Nghành Công Nghệ May 2015 - 2020 Đồ án Tốt nghiệp -7- lấy sinh viên làm trung tâm đề cao hứng thú cá nhân trong việc lựa chọn nội dung dạy học, nhằm khắc phục kiểu dạy học kiểu áp đặt một chiều từ phía người dạy. Châu Âu: Từ cuối những năm 1960, Châu Âu bắt đầu cải cách giáo dục mới. Các tư tưởng dạy học lấy sinh viên làm trung tâm, phát huy tính tích cực của sinh viên được sử dụng rộng rãi và tiếp tục phát triển trên cơ sở những tri thức khoa học giáo dục hiện đại với những mô hình và thuật ngữ khác nhau. Chẳng hạn, Đức không dùng thuật ngữ dạy học lấy sinh viên làm trung tâm mà sử dụng phổ biến thuật ngữ dạy học định hướng sinh viên (dạy học hướng vào sinh viên) với chú ý thể hiện mô hình hiện đại về quan điểm dạy học này, đồng thời tránh tư tưởng cực đoan quá nhấn mạnh vai trò “trung tâm” của sinh viên trong quá trình học.
Khi đề cập đến tính tích cực hóa người học thì không quên nhắc đến mô hình tích tính cực hóa người học của Malone –Laooer (1987) và của Keller – Suzuki (1988). Theo Malone – Lapper các yếu tố tính cực bên trong (tích cực đến từ người học, ví dụ như sở thích cá nhân) mang lại nhiều lợi ích là tích cực bên ngoài (do sự tác động của bên ngoài như động viên, khen thưởng của thầy,.) Malone và Lapper cho rằng có 4 yếu tố làm gia tăng tính tích cực bên trong: sự thử thách, sự tò mò, sự kiểm soát và khả năng tưởng tượng. Chính vì thế ông đã đưa ra những đề nghị để làm tăng tính tích cực nhận thức bên trong: Sử dụng các trò chơi. Sử dụng các hiệu ứng cảm giác để thu hút sự chú ý của người học và làm cho quá trình nhận thức sâu hơn.
Xây dựng các môi trường cho phép người học khám phá. Dành cho người học nhiều quyền kiểm soát. Luôn đặt ra các hoàn cảnh để thách thức người học. Khơi dậy tính tò mò của người học.
Luôn động viên khích lệ người học. Tương tự như vậy, Keller cũng đưa ra 4 thành phần cấu tạo ra tính tích cực: sự chú ý (Attention), sự phù hợp (Relevance), sự tự tin (Confidence) và sự thỏa mãn (Sastisfaction). Mô hình Keller còn được gọi là mô hình ARCS. Quan điểm chung của Keller cho rằng nhà thiết kế dạy học trong môi trường multimedia phải biết các biện pháp tích cực hóa người học, biết tổ chức chiến lược dạy học và biết thiết kế nội dung dạy học.
SVTH: Nguyễn Thị Hạnh – Lâm Ngọc Hồng Hiếu Nghành Công Nghệ May 2015 - 2020 Đồ án Tốt nghiệp -8- Roger Johnson và David Jonhson cho rằng phần nhiều thời gian dạy học dành cho các tương tác Sinh viên – giảng viên và sinh viên – tài liệu, còn tương tác sinh viên – sinh viên thì hầu như bị lờ đi. Trong một tình huống học hợp tác, sự tương tác được đặc trưng bởi việc khẳng định sự phụ thuộc lẫn nhau về mục đích với trách nhiệm cá nhân. Sự phụ thuộc về mục đích đòi hỏi sự chấp nhận của nhóm là học sẽ cùng bơi hoặc cùng chìm. Theo Roger và David Johnson, thông thường ngày nay giảng viên cố tách sinh viên ra khỏi các sinh viên khác và cho học làm việc độc lập, khi liên tục dùng câu như: “đừng có nhìn vào bài người khác”, “tôi muốn thấy những gì em làm chứ không phải người bên cạnh”, hay “tự làm bài đi”.
Một nghịch lý đại đa số các nhiên cứu so sánh tương tác sinh viên – sinh viên chỉ ra rằng sinh viên học hiểu quả hơn khi học làm việc hợp tác. Ngoài ra, Roger Johnson và David Johnson cho rằng, có một khác biệt giữa “chủ trương sinh viên làm việc trong một nhóm” và cấu trúc làm việc hợp tác với một nhóm sinh viên ngồi cung bàn và làm việc của học, nhưng tự do nói với những sinh viên khác khi làm việc, không được được cấu trúc là một nhóm hợp tác khi không có sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau.