Đặt vấn đề Thân Luận điểm 1: Khái quát bài Luận điểm 2: Phân tích, làm sáng tỏ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật Luận điểm 3: Khái quát vấn đề Kết bài Khẳng định lại vấn đề + Cảm nhận của bản thân - Ở bước này cần ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề những luận điểm trong THÂN BÀI: + LĐ 1: Khái quát ● Tác giả: Cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác (những thông tin chưa nêu ở mở bài) ● Tác phẩm: Hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính, đối với thơ thì khái 43 quát thêm về mạch cảm xúc, đối với truyện thì khái quát thêm về tình huống truyện. ● Vấn đề nghị luận: Vị trí trong tác phẩm, nội dung chính + LĐ 2: Phân tích, cảm nhận (Dựa vào vấn đề nghị luận và phạm vi phân tích để xây dựng hệ thống luận cứ. Trả lời những câu hỏi từ khái quát đến cụ thể để lập ý, huy động kiến thức nền đã được học): ● Câu hỏi 1 - Khái quát: Vấn đề nghị luận được thể hiện với những đặc điểm chính nào? Phạm vi phân tích được chia thành mấy phần? Nội dung chính của từng phần là gì? => Từ đó lập ra các luận cứ ● Câu hỏi 2 - Cụ thể: Trong mỗi luận cứ có các ý nhỏ nào? Trong mỗi luận cứ, tác giả sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Tác dụng là gì? Các hình ảnh có ý nghĩa như thế nào? Nếu là truyện/nhân vật thì có những nét tính cách gì, suy nghĩ, hành động ra sao?. => Từ đó lập ra các ý nhỏ trong mỗi luận cứ ● Đánh dấu vào những ý muốn liên hệ mở rộng hoặc đi sâu phân tích + LĐ 3: Đánh giá ● Đặc sắc nội dung, nghệ thuật của vấn đề nghị luận ● Tài năng, tấm lòng của tác giả ● Liên hệ bản thân (nếu có) VD: Cảm nhận của em về tình cảm của tác giả Viễn Phương thể hiện trong hai khổ thơ đầu bài thơ “Viếng lăng Bác”.
=> Vấn đề nghị luận: tình cảm của tác giả Viễn Phương => Phạm vi phân tích: hai khổ thơ đầu bài thơ “Viếng lăng Bác”. => Lập ý: LĐ 1: Khái quát - Viễn Phương: + cây bút tiêu biểu của nền văn nghệ kháng chiến + chất thơ mộc mạc, giản dị, chân thành, giàu cảm xúc, tình cảm và lòng biết ơn đối với quê hương, đất nước. 44 - “Viếng lăng Bác”: + 1976 + Nhà thơ ra thăm lăng Bác + Sau khi nước nhà thống nhất - 2 khổ đầu: tình cảm của tác giả khi đến lăng và khi cùng dòng người vào lăng viếng Bác LĐ 2: Phân tích - Luận cứ 1: Niềm xúc động, tình cảm thân thương, kính trọng khi đến lăng Bác + xưng hô “con” - “Bác” + “miền Nam” => tình cảm kính yêu, trìu mến, thiêng liêng (Liên hệ về cách xưng hô đặc biệt giữ nhân dân và Chủ tịch HCM) + “thăm” => nói giảm nói tránh + hàng tre: ● tả thực: khung cảnh ngoài lăng ● ẩn dụ: con người VN kiên cường, bền bỉ trước “bão táp mưa sa” ● Ôi! => câu cảm thán bộc lộ trực tiếp cảm xúc - Luận cứ 2: Tấm lòng thành kính, tiếc thương khi cùng dòng người vào lăng viếng Bác: + Nghệ thuật sóng đôi, ẩn dụ: “mặt trời đi qua trên lăng” + “mặt trời trong lăng” ● mặt trời của tự nhiên, đem lại hơi ấm, ánh sáng, sự sống cho muôn loài. ● mặt trời trong lăng ẩn dụ chỉ Bác Hồ - người đã soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam => ca ngợi sự vĩ đại, công lao to lớn của Bác + bày tỏ lòng tôn kính, tự hào, biết ơn vô hạn đối với Bác + Mặt trời “rất đỏ” => trái tim tràn đầy nhiệt huyết cách mạng, giàu lòng yêu nước, thương dân của Người => mặt trời tự nhiên dường như cũng đang ngày ngày chiêm ngưỡng mặt trời của dân tộc.
+ Điệp từ “ngày ngày” => tiếp nối thời gian liên tục, tạo nhịp điệu chậm rãi, sâu lắng. + Hình ảnh ẩn dụ “kết tràng hoa” ● tả thực (những bông hoa tươi thắm kết thành tràng hoa dâng 45 lên Người). ● biểu tượng => mỗi người con đang xếp hàng vào lăng viếng Bác mỗi ngày là một bông hoa ngát thơm, họ xếp thành hàng dài tựa những tràng hoa, dòng người đó vào lăng viếng Bác với tấm lòng thành kính, dâng lên Người những gì tốt đẹp nhất. + “Bảy mươi chín mùa xuân” chỉ bảy mươi chín năm cuộc đời Bác, một cuộc đời đẹp như những mùa xuân và chính Người đã làm ra mùa xuân cho đất nước, dân tộc.
Biên độ câu thơ kéo dài thành chín chữ sâu lắng, âm điệu câu thơ thì mượt mà, giàu hình ảnh và sâu sắc hơn. LĐ 3: Đánh giá: - Nội dung đoạn thơ - Nghệ thuật của 2 đoạn thơ b. Mục đích của bước làm này - Giúp người viết xây dựng được hệ thống luận điểm chặt chẽ, khi viết không bị thiếu ý, thừa ý, quên ý. - Làm chủ thời gian khi viết, chủ động căn giờ để hoàn thành bài.
Lưu ý: Tùy vào khả năng làm chủ kiến thức mà bước 2 này em có thể làm một cách cụ thể hay khái quát: + Nếu đã nắm chắc kiến thức rồi thì chỉ cần ghi lại những ý chính + Nếu chưa nắm chắc kiến thức thì cần ghi chi tiết hơn nội dung của từng ý + Chỉ ghi những từ khóa chính, không ghi cả câu dài dòng gây mất thời gian. Bước 3: Viết bài (65 đến 70 phút - trình bày sạch sẽ, cẩn thận) Trình tự viết: Viết lần lượt từng phần MB, TB, KB theo dàn ý cơ bản đã nêu ở bước 2 4. Bước 4: Đọc lại bài (3 phút - nếu còn thời gian) - Chú ý đọc lại những câu mở đoạn, kết đoạn xem đã viết đúng, rõ ràng chưa. - Soát lỗi chính tả.
- Nếu có lỗi cần sửa thì gạch đi sửa lại thật sạch sẽ. PHƯƠNG PHÁP VIẾT TỪNG PHẦN NHỎ TRONG BÀI VIẾT Tại đây hướng dẫn phương pháp viết từng phần nhỏ trong bài viết theo trình tự: - Mở bài + Kết bài - Thân bài: LĐ 1 + LĐ 3 - Thân bài: LĐ 2: Phân tích thơ - Thân bài: LĐ 2: Phân tích văn xuôi - Cách liên hệ mở rộng, tạo điểm nhấn trong bài viết 1. PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI (5 phút) a. Cấu trúc Mở bài = Dẫn dắt + Nêu vấn đề và phạm vi phân tích Trong đó: + Dẫn dắt là phần không bắt buộc nhưng nên có để mở bài hay và ấn tượng => Phần được sáng tạo linh hoạt, có thể chuẩn bị trước khi đi thi.
+ Nêu vấn đề và phạm vi phân tích là phần BẮT BUỘC phải nêu đúng và đủ => Phần cố định, phụ thuộc vào từng đề bài khác nhau. Cách viết * Mở bài trực tiếp: giới thiệu tác giả, tác phẩm => Nêu vấn đề nghị luận và phạm vi phân tích. VD: Viễn Phương là một cây bút tiêu biểu của nền văn nghệ kháng chiến. Thơ ông mộc mạc, giản dị, giàu cảm xúc, thể hiện sâu sắc tình cảm, lòng biết ơn đối với quê hương, đất nước.
Tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Viễn Phương phải kể tới đó là thi phẩm “Viếng lăng Bác”. Bài thơ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc về tình cảm kính yêu, tha thiết của tác giả qua hai khổ thơ đầu: “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác /./ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.” => Nhận xét: Cách viết này nhanh, đảm bảo đúng, đủ, nhưng không ấn tượng. * Mở bài gián tiếp: Dẫn dắt từ đề tài/phong cách sáng tác/nhận định/cảm nhận cá nhân… + Nêu vấn đề và phạm vi phân tích 47 Dưới đây là một số cách dẫn dắt: - Cách 1: Dẫn dắt từ đề tài sáng tác + Trình tự viết: Nêu tên đề tài => dẫn ra khoảng 2 đến 3 tác phẩm thuộc đề tài đó => Dẫn vào tác phẩm => Dẫn vào vấn đề cần nghị luận + Công thức: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, + tên đề tài + không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ. Chúng ta từng biết tới.+ trích dẫn 2 - 3 tác phẩm, tác giả tiêu biểu viết về đề tài đó.
Và khi đến với những sáng tác của + tên tác giả, chúng ta lại thêm một lần nữa được nhìn về một tác phẩm nổi bật thuộc đề tài này đó là + tên tác phẩm => Nêu vấn đề cần nghị luận. Hoặc: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, + tên đề tài + không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ. Và + tên tác giả + là một trong những cây bút tiêu biểu sáng tác về đề tài này. Tên tác phẩm + của ông/bà + đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng những trang thơ/trang văn đậm màu sắc + đặc điểm của đề tài trong tác phẩm của họ => Nêu vấn đề + VD: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đề tài người lính không biết tự bao giờ đã trở thành cội nguồn sáng tác cho biết bao người nghệ sĩ.
Và Phạm Tiến Duật là một trong những cây bút tiêu biểu sáng tác về đề tài này. Thi phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc bằng những trang thơ đậm màu sắc trẻ trung, sôi nổi, ngang tàng mà sâu sắc. => Nêu vấn đề - Cách 2: Dẫn dắt từ phong cách sáng tác của tác giả + Trình tự viết: Đi sâu vào phong cách của tác giả => Tác phẩm => Nêu vấn đề + Công thức: Mỗi người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác đều có một chất giọng của riêng mình. Nếu + 1 số tác giả và phong cách tương ứng + thì + tác giả chính + lại ghi dấu ấn trên thi đàn/văn đàn bằng chất giọng + phong cách của tác giả chính.
Tên tác phẩm + chính là 48 kết tinh của phong cách ấy. + Ví dụ: Mỗi người nghệ sĩ trong quá trình sáng tác đều có một chất giọng của riêng mình. Nếu Kim Lân có chất văn giản dị, chân chất, mộc mạc khi viết về người nông dân của làng quê Bắc Bộ thì Nguyễn Quang Sáng lại ghi dấu ấn trên văn đàn bằng chất giọng đôn hậu, hào sảng đặc trưng cho người nông dân Nam Bộ. Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” chính là kết tinh cho phong cách độc đáo ấy của Nguyễn Quang Sáng.