Luận án tiến sĩ: Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại VN

Tài liệu luận văn chuyên sâu về kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại. Phân tích quy trình, hạch toán và quản lý rủi ro hiệu quả.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2009

239
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kế toán công cụ tài chính ngân hàng thương mại

Kế toán công cụ tài chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngân hàng thương mại. Công cụ tài chính là hợp đồng tạo ra tài sản tài chính cho một bên và nợ phải trả hoặc công cụ vốn chủ sở hữu cho bên còn lại. Trong ngân hàng thương mại, công cụ tài chính bao gồm tiền gửi, cho vay, chứng khoán đầu tư và các hợp đồng phái sinh như quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi. Các chuẩn mực kế toán quốc tế điều chỉnh lĩnh vực này gồm IAS 32 về trình bày, IAS 39 về ghi nhận và đo lường, IFRS 7 về công bố thông tin và IFRS 9 về công cụ tài chính. Tại Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam đang dần tiếp cận với chuẩn mực quốc tế. Ngân hàng thương mại có đặc điểm riêng với chức năng tạo tiền và trung gian tín dụng. Do đó, kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng đòi hỏi sự chính xác, minh bạch và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định nhằm đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia.

1.1. Bản chất và phân loại công cụ tài chính

Công cụ tài chính là hợp đồng quy định quyền nhận tiền hoặc công cụ tài chính khác của một bên và nghĩa vụ thanh toán của bên còn lại. Công cụ tài chính được phân thành hai nhóm chính. Nhóm công cụ cơ bản gồm tiền mặt, khoản phải thu, khoản phải trả, chứng khoán nợ, chứng khoán vốn. Nhóm công cụ phái sinh gồm hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn, hợp đồng hoán đổi. Trong ngân hàng thương mại, các công cụ tài chính chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Việc phân loại đúng công cụ tài chính là cơ sở quan trọng để áp dụng phương pháp kế toán phù hợp theo chuẩn mực quốc tế hiện hành.

1.2. Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính

Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính bao gồm bốn chuẩn mực chính. IAS 32 quy định nguyên tắc trình bày, phân biệt giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. IAS 39 đề cập ghi nhận khi doanh nghiệp trở thành bên ký kết hợp đồng, đo lường theo giá trị hợp lý hoặc giá gốc phân bổ. IFRS 7 yêu cầu công bố thông tin về mức độ quan trọng và bản chất rủi ro. IFRS 9 là chuẩn mực mới nhất, thay thế dần IAS 39, áp dụng phân loại đơn giản hơn và mô hình tổn thất dự kiến thay vì tổn thất đã phát sinh.

II. Phân tích thực trạng kế toán công cụ tài chính ngân hàng

Thực trạng kế toán công cụ tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam cho thấy nhiều vấn đề cần cải thiện. Các ngân hàng đã xây dựng hệ thống kế toán cơ bản để ghi nhận các công cụ tài chính truyền thống như tiền gửi, cho vay và chứng khoán. Tuy nhiên, việc áp dụng kế toán cho các công cụ phái sinh vẫn còn hạn chế. Các hợp đồng phái sinh như hợp đồng kỳ hạn, quyền chọn, hoán đổi lãi suất đòi hỏi phương pháp đo lường giá trị hợp lý phức tạp. Ngân hàng gặp khó khăn trong việc xác định giá trị hợp lý của công cụ tài chính không có thị trường hoạt động. Việc áp dụng mô hình tổn thất dự kiến theo IFRS 9 đòi hỏi thay đổi lớn trong quy trình kế toán và hệ thống quản trị rủi ro. Đội ngũ nhân viên kế toán cần được đào tạo nâng cao nghiệp vụ. Hệ thống công nghệ thông tin hiện tại chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu xử lý dữ liệu phức tạp phục vụ kế toán công cụ tài chính theo chuẩn mực quốc tế.

2.1. Vấn đề đo lường giá trị hợp lý công cụ tài chính

Đo lường giá trị hợp lý là thách thức lớn nhất trong kế toán công cụ tài chính tại ngân hàng thương mại. Nhiều công cụ tài chính không có thị trường hoạt động, buộc ngân hàng phải sử dụng mô hình định giá và kỹ thuật ước tính. Giá trị hợp lý được xác định dựa trên ba bậc thang giá trị hợp lý theo IFRS 13. Bậc một sử dụng giá niêm yết trên thị trường hoạt động. Bậc hai sử dụng dữ liệu quan sát được gián tiếp. Bậc ba sử dụng dữ liệu không quan sát được. Việc thiếu dữ liệu đầu vào đáng tin cậy và phương pháp định giá chưa thống nhất giữa các ngân hàng gây ra rủi ro sai lệch trong báo cáo tài chính.

2.2. Thách thức áp dụng mô hình tổn thất dự kiến theo IFRS 9

IFRS 9 giới thiệu mô hình tổn thất dự kiến thay thế mô hình tổn thất đã phát sinh của IAS 39. Mô hình mới yêu cầu ngân hàng ghi nhận dự phòng tín dụng ngay từ thời điểm phát sinh khoản cho vay. Ngân hàng phải đánh giá rủi ro tín dụng theo ba giai đoạn. Giai đoạn một ghi nhận tổn thất dự kiến 12 tháng. Giai đoạn hai và ba ghi nhận tổn thất dự kiến toàn bộ thời hạn khi rủi ro tín dụng tăng đáng kể. Việc xây dựng mô hình dự báo tổn thất đòi hỏi dữ liệu lịch sử phong phú, hệ thống quản trị rủi ro hiện đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao. Đây là thách thức lớn đối với nhiều ngân hàng Việt Nam.

III. Giải pháp hoàn thiện kế toán công cụ tài chính ngân hàng

Hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, ngân hàng cần xây dựng hệ thống kế toán phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Hệ thống phải đáp ứng yêu cầu ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố thông tin đầy đủ. Ngân hàng cần ban hành quy trình kế toán nội bộ chi tiết cho từng loại công cụ tài chính. Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin là yếu tố then chốt để xử lý dữ liệu phức tạp. Đào tạo nguồn nhân lực kế toán có chuyên môn cao về công cụ tài chính và chuẩn mực quốc tế là nhiệm vụ cấp bách. Ngân hàng Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý hướng dẫn áp dụng IFRS tại Việt Nam. Hợp tác quốc tế và chia sẻ kinh nghiệm giữa các ngân hàng cũng góp phần nâng cao chất lượng kế toán công cụ tài chính. Các giải pháp cần được triển khai đồng thời để đạt hiệu quả tối ưu.

3.1. Xây dựng hệ thống kế toán và công nghệ thông tin

Xây dựng hệ thống kế toán công cụ tài chính hiện đại là giải pháp nền tảng. Ngân hàng cần thiết kế phần mềm kế toán tích hợp với hệ thống quản trị rủi ro. Hệ thống phải tự động phân loại công cụ tài chính theo mục đích kinh doanh. Phần mềm cần hỗ trợ đo lường giá trị hợp lý bằng nhiều phương pháp khác nhau. Hệ thống phải lưu trữ đầy đủ thông tin về giao dịch công cụ tài chính phục vụ kiểm toán. Ngân hàng nên tham khảo mô hình thành công của các ngân hàng quốc tế. Việc hợp tác với công ty công nghệ tài chính giúp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số trong kế toán.

3.2. Đào tạo nguồn nhân lực kế toán công cụ tài chính

Đào tạo nguồn nhân lực là giải pháp quan trọng để hoàn thiện kế toán công cụ tài chính. Ngân hàng cần xây dựng chương trình đào tạo nội bộ chuyên sâu về chuẩn mực kế toán quốc tế. Nhân viên kế toán phải nắm vững nguyên tắc phân loại, ghi nhận và đo lường công cụ tài chính theo IFRS. Ngân hàng nên cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo quốc tế về kế toán công cụ tài chính. Xây dựng đội ngũ chuyên gia phân tích rủi ro tín dụng phục vụ mô hình tổn thất dự kiến. Hợp tác với các trường đại học để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đào tạo liên tục giúp nhân viên cập nhật kịp thời các thay đổi trong chuẩn mực kế toán quốc tế.

IV. Kết luận và ứng dụng kế toán công cụ tài chính ngân hàng

Kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại là lĩnh vực phức tạp và quan trọng. Luận án đã phân tích tổng quan lý luận về công cụ tài chính và kế toán công cụ tài chính theo chuẩn mực quốc tế. Thực trạng kế toán công cụ tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam cho thấy nhiều tồn tại cần khắc phục. Các giải pháp hoàn thiện đã được đề xuất bao gồm xây dựng hệ thống kế toán hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực và hoàn thiện khung pháp lý. Áp dụng thành công kế toán công cụ tài chính giúp ngân hàng nâng cao tính minh bạch báo cáo tài chính. Nhà đầu tư và cơ quan quản lý có cơ sở đánh giá chính xác hơn về tình hình tài chính ngân hàng. Kế toán công cụ tài chính chuẩn mực góp phần ổn định hệ thống tài chính quốc gia. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo cho các ngân hàng thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Về mặt lý luận, nghiên cứu tổng hợp hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế về công cụ tài chính. Nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa kế toán công cụ tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam cải thiện hệ thống kế toán. Nghiên cứu cung cấp cơ sở cho cơ quan quản lý xây dựng chính sách áp dụng IFRS tại Việt Nam. Đội ngũ kế toán viên có thêm kiến thức chuyên sâu phục vụ công tác chuyên môn.

4.2. Hướng phát triển và khuyến nghị áp dụng thực tế

Kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại sẽ tiếp tục phát triển theo hướng hội nhập quốc tế. Việt Nam cần đẩy nhanh lộ trình áp dụng IFRS cho các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước nên ban hành hướng dẫn cụ thể về kế toán công cụ tài chính phái sinh. Các ngân hàng cần đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ và nguồn nhân lực. Nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào đánh giá tác động của IFRS 9 đến chất lượng báo cáo tài chính ngân hàng. Hợp tác giữa cơ quan quản lý, trường đại học và ngân hàng cần được tăng cường để đạt kết quả tốt nhất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Tài liệu luận văn hoàn thiện kế toán công cụ tài chính trong các ngân hàng thương mại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về kế toán công cụ tài chính trong ngân hàng thương mại 1. Công cụ tài chính. Lịch sử phát triển công cụ tài chính. Để có được danh mục đa dạng và phức tạp như ngày nay, công cụ tài chính đã trải qua hàng nghìn năm hình thành, phát triển, đặc biệt qua các trào lưu đổi mới tài chính trong hơn vài thập kỷ vừa qua.

(1) Giai đoạn hình thành (từ 3.500 năm trước Công nguyên đến cuối thế kỷ XIX). Tư liệu khảo cổ cho thấy, khoảng 3.500 năm trước Công nguyên đã có hoạt động giữ của cải dư thừa của công chúng tại các nhà thờ Hy Lạp [8, tr. Các sáng kiến của người gửi tài sản (tiền) là sử dụng giấy biên nhận gửi tài sản trong trao đổi và sáng kiến sử dụng tài sản (tiền) giữ hộ để cho vay của người giữ tài sản (tiền) chính là cơ sở hình thành các công cụ tài chính sơ khai - chứng thư (biên nhận gửi tài sản) và cho vay [2, tr. Ngày nay các chứng thư trở thành séc, còn tài sản và tiền của người gửi tại nhà thờ là tiền gửi của khách hàng tại các NHTM.

Sau đó, các công cụ tài chính khác được ra đời và phát triển nhằm mục đích tạo lập các phương thức giao dịch thuận lợi cho việc tìm và sử dụng vốn. Bằng cách mua lại các khoản phải thu sau khi các thương gia cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, ngân hàng đã hình thành một trong các sản phẩm tín dụng sớm nhất, đó là chiết khấu thương phiếu [79, tr. Các công cụ tài chính phái sinh cũng đã được hình thành từ hàng nghìn năm nay, như quyền chọn liên quan đến sự vỡ nợ các khoản phải trả lãi được mô tả trong Luật Hammurabi (Code of Hammurabi) xuất hiện vào 1.750 năm trước Công nguyên hay quyền chọn mua ô liu được mô tả trong Aristotle’s Politics vào 350 document, khoa luan20 of 98. tai lieu, luan van21 of 98.

9 năm trước Công nguyên. Sau đó, các giao dịch quyền chọn phát triển tại Anh, Pháp vào thế kỷ XII, XIII, các hợp đồng quyền chọn và kỳ hạn mua, bán hoa tulip tại Hà Lan xuất hiện vào thế kỷ XVII và các hợp đồng tương lai cũng được chính thức giao dịch khi sàn giao dịch Amsterdam ra đời vào năm 1611 [84]. Sang thế kỷ XI, thị trường chứng khoán đầu tiên hình thành tại Pháp giữa ngân hàng và các cá nhân nhằm thực hiện các giao dịch công cụ nợ [89]. Trái phiếu và cổ phiếu xuất hiện, phát triển vào thế kỷ XVI, nhất là sau khi thị trường trái phiếu tại Anh ra đời năm 1694, thị trường chứng khoán có đăng ký được thành lập năm 1.773 tại Luân Đôn [4, tr.

Ngoài ra, cổ phiếu ưu đãi có cổ tức cố định hình thành từ những năm 1830, khi các công ty vận chuyển đường bộ và đường sông tại Hoa Kỳ có nhu cầu tăng vốn cho các dự án của mình [68]. Tóm lại, qua hàng nghìn năm, các công cụ tài chính khác nhau đã lần lượt ra đời và phát triển, từ những công cụ đơn giản như cho vay, tiền gửi, thương phiếu… đến các công cụ phái sinh phức tạp như giao dịch tương lai, kỳ hạn và quyền chọn. Đầu thế kỷ XX, hoạt động của các ngân hàng được đẩy mạnh, nhờ đó các công cụ tài chính là các khoản cho vay, thương phiếu và chấp phiếu ngân hàng cũng phát triển theo. Ngoài việc mở rộng cho vay kinh doanh vào các năm 1920 -1930, các ngân hàng lớn như Citigroup, Bank of America bắt đầu thúc đẩy sản phẩm tín dụng khác là cho vay tiêu dùng.

Thương phiếu là công cụ tài chính có những biến động thăng trầm, điển hình như ở Hoa Kỳ. Tại quốc gia này, thương phiếu có lịch sử phát triển dài: đầu thế kỷ XX phát triển mạnh, ngưng vào cuối những năm 1920 cho đến kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ II, rồi sau đó phát triển trở lại vào những năm 1960 để cuối cùng một lần nữa gián đoạn khi Công ty vận tải Penn-Central của Hoa Kỳ tuyên bố phá sản ngày 21/6/1970 [43]. document, khoa luan21 of 98. tai lieu, luan van22 of 98.

10 Bên cạnh đó, thời kỳ đầu của giai đoạn này, các ngân hàng đã chú trọng đến phát triển chấp phiếu ngân hàng nhằm cạnh tranh với các thương phiếu của các công ty [43]. Ngoài các giao dịch kỳ hạn, tương lai và quyền chọn đã được hình thành từ giai đoạn trước và không ngừng phát triển, thị trường phái sinh tiếp tục được bổ sung bởi giao dịch hoán đổi tiền tệ vào những năm 1960. Các giao dịch phái sinh này giúp các công ty xuyên quốc gia chuyển đổi tiền tệ khi đầu tư vào một chi nhánh tại nước ngoài nhưng bị hạn chế bởi luật của các nước về việc chuyển đổi tiền tệ1. Trước nhu cầu sử dụng vốn gia tăng, các ngân hàng đã đa dạng hoá công cụ tài chính tạo lập vốn là chứng chỉ tiền gửi.

Năm 1962, Ngân hàng quốc gia thành phố New York (nay là Citibank) đã đưa ra thị trường một sản phẩm tiền gửi mới là chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng (NCD: negotiable certificate of deposit). Sản phẩm này đem lại nguồn vốn quan trọng cho các ngân hàng đồng thời tăng thêm tài sản tài chính cho các quỹ đầu tư [9, tr. Như vậy, hầu hết các công cụ tài chính có quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Qua thời gian, các công cụ tài chính tiếp tục phát triển, phổ biến hơn và xuất hiện thêm các công cụ tài chính mới để tạo ra danh mục các công cụ tài chính ngày càng đa dạng về chủng loại và phức tạp hơn.

Trong các thập kỷ 1970, 1980 và 1990 đã liên tục xuất hiện nhiều trào lưu đổi mới tài chính với việc hình thành nhiều công cụ tài chính hiện đại. Trước hết, những năm 1970 hàng loạt công cụ tài chính phái sinh mới ra đời: Giao dịch tương lai tiền tệ (1972); Giao dịch quyền chọn cổ phiếu thường (1973); Giao dịch tương lai các công cụ nợ (1975); Giao dịch tương lai tín phiếu/ trái phiếu Kho Bạc (1976, 1977) [50], [84]. 1 Lịch sử công cụ tài chính –http://www.vn/taichinh/congcu document, khoa luan22 of 98. tai lieu, luan van23 of 98.

11 Sang thập kỷ 1980, sự kết hợp các giao dịch hoán đổi, quyền chọn và trái phiếu tạo ra các công cụ tài chính mới, phức tạp hơn, như: Giao dịch tương lai Eurodollar (Đô la châu Âu) - kỳ hạn 3 tháng; Giao dịch tương lai chỉ số cổ phiếu, chỉ số chứng khoán; Giao dịch quyền chọn lãi suất, tiền tệ, chỉ số cổ phiếu; Giao dịch quyền chọn tương lai trái phiếu, tương lai chỉ số cổ phiếu. Đến đầu những năm 1990, giao dịch phái sinh tín dụng hiện diện tại các NHTM lớn hay ngân hàng đầu tư tại Anh và nhanh chóng phát triển trên toàn cầu. Đây là giao dịch được kết hợp giữa giao dịch kỳ hạn, hoán đổi hay quyền chọn với công cụ tài chính là trái phiếu công ty, các khoản cho vay lớn hay danh mục các khoản cho vay nhỏ đồng nhất của các ngân hàng, điển hình như hoán đổi vỡ nợ tín dụng (credit- defaut swap), hoán đổi toàn bộ thu nhập (total –return swap) [45] [76, tr. Ngoài ra, trên thị trường tiền gửi cũng có những thay đổi đáng kể, xuất hiện các công cụ mới, giúp ngân hàng huy động vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn gia tăng.

Đó là tài khoản giao dịch hưởng lãi (NOW: Negotiable order of withdrawal) xuất hiện tại Anh vào những năm 1970, tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ (MMDA: Money market deposit account) và tài khoản giao dịch hưởng lãi có lãi suất nằm giữa lãi suất tài khoản NOW và MMDA là Super NOW (Super negotiable order of withdrawal) ra đời tại Hoa Kỳ năm 1982 [24, tr. Hình thành từ hàng nghìn năm nay, trải qua lịch sử phát triển lâu dài, cùng các trào lưu đổi mới tài chính trong vài thập kỷ gần đây, công cụ tài chính dù ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp, nhưng tất cả đều nhằm mục đích tạo lập các phương thức huy động vốn và sử dụng vốn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế. Bản chất công cụ tài chính. Định nghĩa công cụ tài chính.

Công cụ tài chính bao gồm những loại đơn giản như các khoản cho vay, thương phiếu, trái phiếu, cổ phiếu… cho đến công cụ phái sinh phức tạp như hoán đổi, tương lai, kỳ hạn…dù có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài nhưng thuật ngữ công cụ tài chính dùng để bao quát tất cả các công cụ này chỉ được đưa ra sau document, khoa luan23 of 98. tai lieu, luan van24 of 98. 12 khi xuất hiện các trào lưu đổi mới tài chính. Và tuy không ít tài liệu, công trình nghiên cứu đề cập đến bản chất, đặc điểm cũng như quy định về kế toán của từng loại công cụ tài chính, nhưng hiếm khi đưa ra định nghĩa chung về chúng.

Dưới đây là một số khái niệm về công cụ tài chính: Theo Lanny G. Chasteen và cộng sự, công cụ tài chính bao gồm: Tiền mặt; Bằng chứng về lợi ích của chủ sở hữu trong tổ chức; Hợp đồng mà theo thỏa thuận một bên có trách nhiệm chuyển giao tiền mặt hoặc công cụ tài chính khác hay thỏa thuận trao đổi công cụ tài chính với đối tác trong điều kiện bất lợi và đồng thời mang lại cho bên kia quyền nhận tiền mặt hoặc công cụ tài chính khác hay quyền trao đổi các công cụ tài chính với điều khoản có lợi [35, tr. Theo tác giả, điều kiện cần thiết để tồn tại một công cụ tài chính là quyền và nghĩa vụ được thoả thuận trong hợp đồng về giao dịch tài chính. Trong đó, các điều khoản của hợp đồng được thoả thuận trực tiếp giữa hai bên liên quan, nhưng có thể được quy định chung bởi luật pháp giữa các bên (Walton et al, 1998) [78, tr.J Williamson, người sở hữu công cụ tài chính có quyền theo thoả thuận đối với lãi và gốc khi nắm giữ trái phiếu, quyền đối với cổ tức có thể được trả trong tương lai hay giá trị còn lại của công ty phát hành sau khi trừ khoản nợ phải trả để được sở hữu cổ phần của công ty này; quyền đối với một lượng hàng hoá, tiền tệ hay cổ phần nhất định khi đầu tư vào hợp đồng tương lai….Chủ sở hữu các công cụ tài chính có quyền chuyển nhượng các quyền này khi chúng chưa đến hạn thanh toán hay chưa được thanh lý [53].

IAS 32 “Công cụ tài chính: Trình bày và công bố”, đoạn 11 định nghĩa: “Công cụ tài chính là bất cứ hợp đồng nào mang lại tài sản tài chính cho một doanh nghiệp và nợ tài chính hay công cụ vốn cho doanh nghiệp khác”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ