Tài liệu Hướng dẫn Học tập Môn Quản trị học - Trường Đại học Mở TP.HCM (TS. Hoàng Mạnh Dũng)

Cung cấp tài liệu hướng dẫn học tập môn Quản trị học dành cho sinh viên Đại học Mở TP.HCM. Nội dung chi tiết, dễ hiểu, hỗ trợ tối đa cho quá trình ôn tập và

Trường đại học

Trường Đại học Mở Tp.HCM

Chuyên ngành

Quản trị học

Tác giả

Hoàng Mạnh Dũng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu hướng dẫn học tập

2012

183
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tài liệu hướng dẫn học tập Quản trị học

Tài liệu hướng dẫn học tập Quản trị học là giáo trình chính thức của Trường Đại học Mở TP.HCM. TS. Hoàng Mạnh Dũng biên soạn tài liệu này vào tháng 3 năm 2012. Môn học cung cấp bộ khung kiến thức cơ bản về công tác điều hành quản lý một tổ chức. Quản trị giữ vai trò quan trọng đối với mọi sự thành công của từng tổ chức. Từ vĩ mô đến vi mô, quản trị đều ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và hiệu quả. Tài liệu bao gồm 10 chương học với nội dung từ tổng quan đến chuyên sâu. Người học tiếp cận các khái niệm cốt lõi, lý thuyết quản trị và kỹ năng thực hành. Trong xu thế hội nhập kinh tế, hoạt động quản trị càng có ý nghĩa lớn lao. Mục tiêu phát triển bền vững các tổ chức đòi hỏi nhà quản trị phải có kiến thức vững chắc. Tài liệu này là nền tảng quan trọng cho sinh viên ngành quản trị kinh doanh và quản lý tổ chức.

1.1. Thông tin giảng viên và môn học

TS. Hoàng Mạnh Dũng chịu trách nhiệm giảng dạy môn Quản trị học tại Trường Đại học Mở TP.HCM. Giảng viên có thể liên hệ qua email dungoupmu@yahoo.vn hoặc điện thoại 08.9301285. Môn học yêu cầu người học liên hệ lý thuyết với thực tiễn đã và đang xảy ra. Sinh viên cần đọc nhiều sách giáo khoa và tài liệu khoa học để tổng kết thành lý luận vững chắc. Đây là môn học nền tảng với 3 đơn vị học trình, phân bổ thời gian hợp lý cho toàn bộ học kỳ.

1.2. Mục tiêu đào tạo của môn học

Môn học trang bị tư duy khoa học về điều hành và ngôn ngữ chung trong quản trị. Người học phát triển kỹ năng phân tích, tổng hợp và tư duy hệ thống. Phương pháp giải quyết vấn đề khoa học được nhấn mạnh xuyên suốt chương trình. Kiến thức áp dụng trực tiếp vào công việc quản lý hàng ngày. Đặc biệt khi đảm nhận cương vị là nhà quản trị ở tất cả các cấp trong tổ chức.

II. Phân tích nội dung và cấu trúc môn Quản trị học

Môn Quản trị học được phân bổ thành 10 chương học logic và hệ thống. Chương đầu tiên giới thiệu khái quát về quản trị và các nguyên lý cơ bản. Chương 2 trình bày sự phát triển của khoa học quản trị qua các thời kỳ lịch sử. Chương 3 tập trung vào vai trò và năng lực của nhà quản trị. Các chương tiếp theo bao gồm truyền thông, ra quyết định và hoạch định chiến lược. Chương 7 đến 10 đề cập đến tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra. Mỗi chương xây dựng trên nền tảng của chương trước đó. Cấu trúc này đảm bảo người học tiếp cận kiến thức từ tổng quan đến chi tiết. Phần cuối tài liệu bao gồm câu hỏi củng cố kiến thức và câu hỏi trắc nghiệm. Hệ thống đánh giá toàn diện giúp sinh viên kiểm tra mức độ nắm vững nội dung học tập.

2.1. Các chương học cốt lõi trong tài liệu

Chương 1 và 2 tạo nền tảng lý thuyết cho toàn bộ môn học. Chương 3 đến 5 tập trung vào kỹ năng quản trị cá nhân như nhà quản trị, truyền thông và ra quyết định. Các chương còn lại đề cập đến quy trình quản trị tổ chức hoàn chỉnh bao gồm hoạch định, tổ chức, nhân sự, lãnh đạo và kiểm tra. Mỗi chương có hệ thống bài tập và tình huống thực tế để củng cố kiến thức.

2.2. Phương pháp đánh giá kết quả học tập

Tài liệu bao gồm câu hỏi củng cố kiến thức và câu hỏi trắc nghiệm ở cuối mỗi chương. Hệ thống đánh giá toàn diện từ lý thuyết đến thực hành. Sinh viên được khuyến khích phân tích và tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Phương pháp đánh giá đa dạng giúp đo lường chính xác năng lực tiếp thu của người học.

III. Phương pháp học tập và tiếp cận môn Quản trị học hiệu quả

Học Quản trị học đòi hỏi phương pháp tiếp cận khoa học và hệ thống. Người học cần đọc kỹ giáo trình trước mỗi buổi học trên lớp. Liên hệ lý thuyết với thực tiễn là yếu tố quan trọng nhất để nắm vững kiến thức. Tài liệu khuyến khích sinh viên phát triển óc phân tích và tổng hợp thông tin. Tư duy hệ thống giúp hiểu mối liên hệ giữa các khái niệm quản trị. Học nhóm và thảo luận giúp mở rộng góc nhìn về vấn đề quản trị. Thực hành giải quyết tình huống củng cố kiến thức lý thuyết một cách vững chắc. Người học cần có phương pháp giải quyết vấn đề hết sức khoa học. Đọc thêm tài liệu tham khảo bổ sung và mở rộng kiến thức chuyên môn. Áp dụng các mô hình phân tích như cơ cấu năm tác động của Michael Porter vào thực tế doanh nghiệp.

3.1. Kỹ năng phân tích và tư duy hệ thống

Tư duy hệ thống giúp nhận diện mối quan hệ giữa các yếu tố quản trị trong tổ chức. Người học cần rèn luyện kỹ năng diễn dịch và quy nạp để hiểu sâu vấn đề. Phân tích tình huống thực tế phát triển khả năng ra quyết định hiệu quả. Sử dụng các công cụ phân tích như ma trận SWOT, mô hình Porter để đánh giá môi trường cạnh tranh.

3.2. Sử dụng tài liệu tham khảo bổ sung

Ngoài giáo trình chính, sinh viên cần đọc thêm sách và bài báo khoa học về quản trị. Tài liệu tham khảo mở rộng kiến thức và cập nhật xu hướng quản trị mới nhất. Các nguồn tài liệu bổ sung giúp người học có cái nhìn đa chiều về vấn đề quản trị. Việc đọc rộng rãi cũng hỗ trợ quá trình tổng kết lý luận vững chắc.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của Quản trị học

Quản trị học cung cấp nền tảng kiến thức vững chắc cho sự nghiệp quản lý. Người học có thể áp dụng ngay các nguyên lý vào công việc hàng ngày. Đặc biệt khi đảm nhận cương vị nhà quản trị ở tất cả các cấp trong tổ chức. Môn học mang lại tư duy sáng tạo và phương pháp điều hành hiệu quả. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, kiến thức quản trị ngày càng cần thiết. Các tổ chức phát triển bền vững nhờ có đội ngũ quản trị giỏi và có tầm nhìn. Tài liệu hướng dẫn học tập là công cụ hỗ trợ đắc lực cho sinh viên Đại học Mở TP.HCM. Đầu tư thời gian học tập nghiêm túc sẽ mang lại kết quả lâu dài cho sự nghiệp. Quản trị học không chỉ là lý thuyết mà còn là nghệ thuật lãnh đạo tổ chức. Nền tảng kiến thức này giúp nhà quản trị hoàn thành mục tiêu đã đề ra.

4.1. Ứng dụng trong môi trường doanh nghiệp

Kiến thức quản trị áp dụng trực tiếp vào vận hành doanh nghiệp hiện đại. Nhà quản trị sử dụng các công cụ hoạch định và kiểm tra để đạt hiệu quả cao. Quản trị nhân sự và lãnh đạo là chìa khóa thành công của mọi tổ chức. Các kỹ năng truyền thông và ra quyết định giúp giải quyết xung đột trong công việc hiệu quả.

4.2. Phát triển nghề nghiệp quản trị

Nền tảng quản trị học mở ra cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp quản lý. Kỹ năng ra quyết định và giải quyết xung đột được đánh giá cao trong môi trường doanh nghiệp. Người học sẵn sàng đảm nhận vai trò lãnh đạo trong tương lai. Quản trị học cung cấp ngôn ngữ chung khi lãnh đạo và phương pháp điều hành sáng tạo.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Tài liệu hướng dẫn học tập môn quản trị học đh mở tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Khái quát về quản trị Số tiết dự kiến: 06 tiết Mục tiêu của chương:  Nắm bắt bối cảnh và các quan điểm về quản lý trong điều kiện hiện nay.  Hiểu mục đích và hiệu quả của hoạt động quản trị.  Quán triệt các chức năng của hoạt động quản trị.  Am tường quản trị là một khoa học và là một nghệ thuật.

 Vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học quản trị. Chi tiết các đề mục của chương: 1. Bối cảnh quản lý trước tình hình hiện nay.1 Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới Toàn cầu hóa (globalization) là một thuật ngữ thường được nói đến trong cuộc sống hàng ngày. Ở Việt Nam, thuật ngữ này chỉ được đề cập khi thực hiện chính sách đổi mới năm 1986.

Vào thời kỳ phong kiến; biên giới kinh tế, chính trị và văn hóa giữa các quốc gia trở nên khó bền vững hơn mặc dù độc lập lãnh thổ, bản sắc riêng của mỗi dân tộc vẫn được tôn trọng và bảo vệ. Với sự hợp tác quân sự của các nước đồng minh trong giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ II và những phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật từ nửa sau thế kỷ 20; thế giới dường như được thu hẹp lại về cả thời gian lẫn không gian cho dù còn nhiều nơi và dân tộc khác vẫn còn cô lập với thế giới hiện đại. Lần đầu tiên vào năm 1944, từ điển Merriam Webster đã công nhận động từ “toàn cầu hóa” (globalize). Với sự phát triển và chuyển giao khoa học xảy ra trên quy mô lớn thúc đẩy các nước xích lại gần nhau hơn và hợp tác trong nhiều lĩnh vực.

Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ), vào tháng 1 năm 1999, khẳng định toàn cầu hóa trở thành một thực tế mang nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia. Hoạt động nổi bật của toàn cầu hóa là sự hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ ngoại giao của các quốc gia. Tiến trình này thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trên thế giới với sự gia tăng GDP toàn cầu từ 2,7 lần vào nửa đầu thế kỷ 20 đến 5,2 lần vào nửa cuối thế kỷ 20 và tốc độ tăng trưởng GDP thế giới đạt đến 3,6%/năm. Đối với Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, có quan hệ thương mại với 160 nước và thu hút đầu tư trực tiếp từ các công ty, tập đoàn kinh tế của hơn 70 quốc gia.

Sự ra đời của WTO, ASEAN, APEC, ASEM, EU, UN, UNESCO hay các khu vực thương mại tự do (FTA) và các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) là những minh chứng của tiến trình này. Sự hợp tác kinh tế và sản xuất quốc tế thể hiện khi tham gia sản xuất máy bay Airbus. Đôi cánh của Airbus được sản xuất tại Anh; thân và đuôi của Đức; cửa máy bay do Tây Ban Nha sản xuất; Pháp thiết kế buồng lái và công đoạn lắp ráp cuối cùng. Ngoài ra, Airbus còn ký hợp đồng với 27 quốc gia khác để sản xuất các thiết bị cần thiết với khoảng 35% các chi tiết trong máy bay do hơn 500 công ty của Mỹ cung cấp.

Có nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa và quá trình phát triển. Mặc dù, nhiều người vẫn quan niệm toàn cầu hóa giống như quốc tế hóa ở sự phát triển mạnh mẽ của các lực lượng sản xuất và sự hợp tác xuyên quốc gia trong lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên không chỉ đơn thuần là sự xích lại gần nhau của các nước, toàn cầu hóa là tiến trình bao gồm một hoặc nhiều sự kiện và hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa hay môi trường có tác động vừa tích cực lẫn tiêu cực giữa các quốc gia. Đây được xem như kết quả của sự phát triển sản xuất và phân công lao động trên bình diện quốc tế.

7 Những tác động này đã và đang làm thay đổi cấu trúc, quan hệ xã hội, trật tự thế giới và gia tăng mối quan hệ về kinh tế, chính trị, xã hội quốc tế. Có ba quan điểm khác nhau về hiện tượng toàn cầu hóa. Hầu hết các quốc gia xem cạnh tranh buộc các cá nhân, tập đoàn kinh tế và chính phủ phải chấp nhận cũng như tìm cách đối phó và khai thác lợi ích. Nhờ vào những sự phát triển của công nghệ thông tin, viễn thông nên con người, hàng hóa, ý tưởng và đồng vốn đã dịch chuyển xuyên quốc gia.

Theo quan điểm này, toàn cầu hóa được xem như cơ hội và thách thức trong trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các nguồn tài chính hai chiều với các quốc gia. Những phát minh và chuyển giao công nghệ nhanh chóng đem lại nhiều lợi ích khi phát triển cơ sở hạ tầng, giao lưu kinh tế và kiến thức mới cho các quốc gia đang phát triển. Một số học giả như Pierre Bourdieu, Namoi Klien hay Loic Wacquant từng lên tiếng chỉ trích tiến trình toàn cầu hóa. Họ đồng hóa với quan niệm đây là quá trình “Mỹ hóa” (Americanization), là bề mặt của chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ và các nước tư bản phương Tây.

Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Mỹ và các nước khác máy móc lấy các kiểu mẫu hay chính sách của Mỹ để làm thước đo cho riêng mình hay cho các hoạt động kinh tế quốc tế. Quan điểm bảo thủ dường như quá lạm dụng những mỹ từ như “toàn cầu hóa”, “đa văn hóa”, “thời đại mới” hay “hậu hiện đại” nhưng lại thiếu hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa tư bản hay bất công và phân tầng trong xã hội. Họ tranh cãi với các tổ chức như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Cộng đồng chung châu Âu (EU)… chẳng qua là những tổ chức do các cường quốc sáng lập, phương tiện để họ bảo vệ lấy mình, thực thi quyền lực gây ảnh hưởng lên các nước đang phát triển. Các tập đoàn quốc tế này thao túng sự cô lập biên giới kinh tế và chính trị giữa các quốc gia, làm mờ nhạt vai trò của nhà nước và chính phủ.

Quan điểm của các học giả này là bênh vực các nước nghèo đến mức thái quá trong cuộc chạy marathon không cân sức này. Họ vẫn đúng khi cả thế giới đang ở đỉnh cao của sự phân cực. Theo báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc) năm 1997, tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thế giới ở các nước giàu và 20% ở các nước nghèo là 1:30 vào năm 1960, 1:60 năm 1990 và 1:74 vào năm 1997. Vào năm 1985, thu nhập bình quân tính theo đầu người ở các nước giàu gấp 76 lần so với các nước nghèo.

Nhưng đến năm 1997, chỉ số này tăng lên 288 lần. Hiện nay, ba tỷ người trên thế giới có mức sống dưới 2 USD/ngày và 1,3 tỷ người có thu nhập dưới 1 USD/ngày. Một quan điểm khác về toàn cầu hóa mang tính trung lập. Họ gồm những nhóm người ít quan tâm đến hiệu ứng của hiện tượng này và xem như một sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại.

Quan điểm đáng trân trọng của trường phái này là đang cố gắng bênh vực nhóm người bất lợi về mặt sinh lý, địa lý, xã hội, giáo dục, tôn giáo, thu nhập và dân tộc. Đây là những người ít có tiếng nói hay cơ hội tiếp xúc với thế giới hiện đại. Vì thế, họ không thể trực tiếp tham gia vào tiến trình này. Nhưng đồng thời vẫn có các tổ chức và cá nhân khác cố gắng bênh vực thông qua các tổ chức nhân đạo, phi chính phủ, các diễn đàn thế giới dành cho người nghèo, khuyết tật… Những hoạt động của các tổ chức này đang được sự đồng tình của cộng đồng thế giới và dần có tiếng nói mạnh mẽ.

Theo quan điểm này, toàn cầu hóa không còn là một xu thế phát triển một chiều từ các quốc gia đã phát triển áp đặt lên các nước đang phát triển nữa. Tiến trình này đã có khuynh hướng di chuyển đa chiều giữa các quốc gia. Toàn cầu hóa được đề cập nhiều trong lĩnh vực kinh tế vì đây là quá trình làm gia tăng mối quan hệ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Nó được xem như sự tự do hóa các hoạt động kinh tế và thương mại quốc tế với sự điều hành của chính phủ từng quốc gia và các tổ chức quốc tế.

Đặc điểm nổi bật của hiện tượng này là 8 sự dịch chuyển (hay còn gọi là “dòng chảy”) của bốn yếu tố: hàng hóa – dịch vụ, di – nhập cư, khoa học kỹ thuật và tiền tệ trong tự do thương mại. Có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình hình thành và phát triển của toàn cầu hóa dựa trên sự tiến hóa của nhân loại. Tiến trình này luôn bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Ở từng thời kỳ, toàn cầu hóa đều có bản chất khác nhau và ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống con người.

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin; nửa sau thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 đã thật sự thay đổi đời sống con người lẫn thế giới: tàu thủy chạy bằng hơi nước được phát minh năm 1807; tàu thủy vượt Đại Tây Dương được đóng năm 1817; đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước được chế tạo ở Anh năm 1802; xe lửa chạy trên đường sắt kéo nhiều toa với tốc độ nhanh hơn trước được chế tạo năm 1814; máy điện tín được phát minh ở Nga và Mỹ vào giữa thế kỷ 19 giúp nhân loại tiết kiệm nhiều thời gian trong thông tin liên lạc. Trong lĩnh vực nông nghiệp, phân hóa học lần đầu tiên được sử dụng vào thế kỷ 19. Đối với ngành công nghiệp, phương pháp sản xuất nhôm nhanh và rẻ được phát minh vào cuối thế kỷ 19. Những phát minh trong thế kỷ 20 như ti vi, máy vi tính, máy bay, xe hơi, kỹ thuật lai tạo trong công nghệ di truyền,.

giúp nhân loại thu hẹp lại khoảng cách và thời gian, tạo điều kiện cho sự ra đời của nền kinh tế tri thức (với bốn cột trụ là công nghệ sinh học, công nghệ ngoài không gian, công nghệ thông tin, và vật liệu mới) và kinh tế sáng tạo (chủ yếu dựa trên nghiên cứu và phát triển). Biên giới kinh tế, văn hóa và xã hội của từng quốc gia riêng biệt trở nên mỏng manh và nhân loại có xu hướng xích lại gần nhau hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ