mở đầu GIỚI THIỆU TIẾNG TÀY, CHỮ TÀY I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG SO VỚI TIẾNG TÀY TRONG CẢ NƢỚC Tiếng Tày là một ngôn ngữ thuộc nhóm Tày - Thái, có địa bàn phân bố từ Đảo Hải Nam sang miền Nam Hoa lục, Bắc Đông Dƣơng, Lào, Thái Lan và Đông Bắc Miến điện. Ở Việt Nam, tiếng Tày là ngôn ngữ của gần hai triệu ngƣời Tày, ngoài ra còn là ngôn ngữ giao tiếp chung của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên các địa bàn Việt Bắc và Tây Bắc. Tiếng Tày là ngôn ngữ có chữ viết cổ dựa trên cơ sở chữ Hán (chữ Nôm Tày).
Hình thái văn tự này đã để lại cho ngày nay một kho tàng thƣ tịch cổ rất đồ sộ. Từ những năm đầu thế kỉ 20, nhất là từ những năm kháng chiến chống Pháp, cùng với sự phổ biến Chữ quốc ngữ, chữ viết tiếng Tày đã đƣợc latinh hoá bằng cách dùng chữ Quốc ngữ ghi âm tiếng Tày. Năm 1961, Chính phủ đã phê chuẩn Phƣơng án chữ Tày – Nùng (Latinh hoá), loại chữ viết ghi âm dựa trên cơ sở chữ Quốc ngữ. Hệ thống âm và chữ tiếng Tày Tiếng Tày tuy là một ngôn ngữ tƣơng đối phát triển, nhƣng hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều phƣơng ngữ khác nhau.
Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài đã xác định vùng chuẩn của tiếng Tày - Nùng. Kết quả của các đề tài nghiên cứu này đã chỉ ra một khu vực của tiếng Tày - Nùng có tính phổ biến nhất và đƣợc coi là vùng chuẩn của tiếng Tày - Nùng. Phải kể đến các vùng nhƣ Yên Bình, Yên Bái, Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Lạc, Na Hang, Chiêm Hoá, Vị Xuyên, Bắc Quang, Bắc Mê,… còn giữ đƣợc nhiều nguyên bản. Đó là hệ thống ngữ âm tiếng Tày - Nùng tồn tại ở địa bàn trong vùng tam giác Ba Bể – Hoà An - Đông Khê, Thất Khê.
Hình c phát âm này đã đƣợc Đài phát thanh Khu tự trị Việt Bắc cũ sử dụng trên làn sóng của mình và ngƣời Tày Nùng ở nhiều địa phƣơng khác tiếp nhận không khó khăn. Hệ thống ngữ âm tiếng Tày Tiếng Tày phát âm rời theo âm tiết (tiếng). Cấu tạo âm tiết tiếng Tày gồm có năm thành tố: Phụ âm đầu, âm đệm, nguyên âm, âm cuối và thanh điệu. * Phụ âm đầu: Tt Phụ âm Phụ âm tiếng Việt Ví dụ tƣơng ứng 1 P P Pi (Năm), Pút/Tắp (Phổi) 2 Ph Pha (Vách), Đẹo (Gọt) 3 B B Bó (Giếng)/Nặm bó/nặm 2 giểng (nƣớc giếng) 4 F Ph Phon (Vôi) 5 Pj P đọc mềm hoá Thang (ngọn); Cảng pèng/Ổ pàng (Nói dối) 6 Phj Ph đọc mềm hoá Pjay bộ (Đi bộ) 7 Bj B đọc mềm hoá Bjóc (hoa) 8 M M Mà/Má (Về) 9 Mj m mềm hoá Bâƣ chàu/Bâƣ pu (lá trầu) 10 T T Tá tái/Tà nài/Ta nái (Ông bà ngoại) 11 Th Th Thả (Đợi), Thiêng (cái lều) 12 Đ Đ Đảy (đƣợc), Pù đán/Pú đãn (Núi đá) 13 D D Da (thuốc), Đảng/Nao/Dân (Rét) 14 N N Pay nòn (Đi ngủ) 15 X X Xăng lâƣ (Xăng dầu) 16 L L Lao/dản (sợ), Muộn (muộn) 17 Ch Ch Chạn (Lƣời) 18 Nh Nh Cải/Luông (To) 19 C C Dám/Pà/Nhàng (Bƣớc) 20 G G (Chỉ có trong những từ mƣợn tiếng Việt) 21 H H Hả (năm) 22 Sl Slon slƣ/Dạy chừ: Học chữ (dạy chữ/dạy chữ/học chữ) 23 Ng Ng Ngám/Vừa (Vừa) Trong Phƣơng ngữ Chữ Tày Nùng còn có hai chữ cái W và Z dùng để ghi âm địa phƣơng.
* Âm đệm Tiếng Tày có một âm đệm w trên chữ viết viết thành u hoặc o. Ví dụ: Tua Nạn/Quang (Con Nai); Khoen (Treo). * Nguyên âm giữa vần: TT Nguyên âm Tƣơng đƣơng Ví dụ tiếng Tày với nguyên âm tiếng Việt 1 I I Y căn/Pần căn (Giống nhau), Mi (Gấu) 2 Ê Ê Hâng lai (Từ lâu) 3 E E Te/Mín (Nó) 4 iê (ya, ia, yê ) iê Tía đa (Địu), Khảng khiêng/Ăn khiêng (Cái Thớt) 5 Ƣ Ƣ Mử (mợ); Tứn khửn (Mọc lên) 6 Ơ Ơ Nớ/Ná (Nhé); Lƣớc tha/Bơn tha/Cẳng ha (ngƣớc Mắt) 7 Â Â Phân (Mƣa), Khân (Khăn) 3 8 ƣơ Ƣơ Đửa/Nƣới (mệt); Lƣơng (vàng) 9 U U Tu (cửa); Mu (lợn) 10 Ô Ô Thông (túi), Ăn ô/Khảng ô (cái ô) 11 Uô Uô Đỏm/Đín (đóm), Cải/Luông (to) A 12 Thông (Sông); Pàn pù/Pù pài/pú pái (Sƣờn núi) Ă 13 Ăn (cái, chiếc) 14 O O Co (cây), Nòn (ngủ) *Phụ âm và bán nguyên âm cuối: Phụ âm cuối TT Phụ âm cuối Phụ âm cuối tiếng Ví dụ Việt tƣơng ứng 1 p P Háp (Gánh) 2 t T Xiết/Thiệt (Tiếc) 3 c (ch) c; ch Bác/Hẳm (Chém/Chặt); Lếch (Sắt) 4 m M Ám/Cằm (miếng) 5 n N Án (Đếm) 6 Ng (nh) Ng, nh Tàng (Đƣờng); Tình (Nghe) Bán nguyên âm cuối TT Bán Nguyên Bán nguyên âm Ví dụ âm tiếng Việt tƣơng ứng 1 i/y I Dãy (dãy); Đây (tốt) 2 u/ o U Chòn (Chui); Khuý (Cƣỡi), Lao/Giản (Sợ), Lẩu (Rƣợu) 3 ƣ Bâƣ (Lá, Bức) * Thanh điệu: 1. Thanh cao ngang [khoang] (Không dấu) ví dụ: Ma (Chó)/Tua Ma (Con Chó); 2.
Thanh ngã (dấu ngã), thanh này không có trong tiếng Tày, khi cần thiết dùng để ghi các từ vay mƣợn của tiếng Việt. 4 * Số đếm trong tiếng Tày Nâng/Đeo* 1 Sloong/Thoong 2 Slam/Tham 3 Slí /thí 4 Hả 5 Sốc/Hốc 6 Chất 7 Pét 8 Cẩu 9 Slíp/Thíp 10 Slíp ất/Thíp ết 11 Slíp nhì/Thíp thoong 12 Slíp slam/Thíp tham 13 Slíp slí/Thíp thí 14 Slíp hả/Thíp hả 15 Slíp hốc/Thíp hốc 16 Slíp cất/Thíp chất 17 Slíp pét/Thíp pét 18 Slíp cảu/Thíp cảu 18 Nhì slíp/Thào 20 Nhì ất/Thào ết… 21 Pác lình ất/Lọi linh ết 101 Pác ất/Lọi ết 110 Pác nhì/Lọi thoong 120 Pác slam/Lọi tham 130 Pác hả/Lọi hả 150 1. Chữ viết của tiếng Tày Chữ viết của tiếng Tày là Chữ Tày - Nùng, đƣợc Chính phủ phê chuẩn năm 1961. Phƣơng án chữ viết nàycó mấy đặc điểm sau: a.
Dùng các chữ cái và cách ghép vần của của Chữ quốc ngữ. Về cơ bản quy tắc chính tả giống với Chữ Quốc ngữ. Bổ sung một số âm mà chữ Quốc ngữ không có: bj; pj; mj; phj, sl (phua mỳa, pù đán). Khi viết bỏ dấu “sắc” trong các âm tiết có âm cuối là p, t, c, ch.
Không có ký hiệu thể hiện thanh “lửng”. Dùng thêm hai chữ cái Z và W để ghi âm địa phƣơng, nếu có. Nhằm giúp ngƣời học phát âm đúng, trong sách này chúng tôi dùng dấu “ _ ” đặt dƣới nguyên âm, cách viết giống nhƣ viết dấu “nặng”. Đây chỉ là kí hiệu quy ƣớc riêng dùng trong việc học tiếng, chƣa phải là kí hiệu của chữ viết chính thức (ngƣời biết và dùng có rất ít).
Từ ngữ Từ của tiếng Tày là từ không biến đổi hình thái, cách cấu tạo về cơ bản giống nhƣ từ trong tiếng Việt. Xét về nguồn gốc, bộ phận cơ bản là những từ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Một bộ phận khác là những từ vay mƣợn trực tiếp từ tiếng Hán Ví dụ: Hài xảo/Bai nhả (giẫy cỏ); Tai va/Cảng pèng/Cảng nhạp (nói phét), Cảng chá (Mặc cả). Hiện nay, trong tiếng Tày có nhiều từ vay mƣợn của tiếng Việt hoặc qua tiếng Việt.
Ví dụ: Phân đạm; Kế toán; Xe đạp; Chính phủ; Chính quyền. Ngữ pháp Ngữ pháp tiếng Tày dùng trật tự, hƣ từ và ngữ điệu làm các phƣơng thức chủ yếu. Trật tự kết hợp từ chặt chẽ và theo trật tự xuôi giống nhƣ ngữ pháp tiếng Việt. Vì vậy, những ngƣời đã biết và đang sử dụng tiếng Việt đều có thể tiếp thu và sử dụng tiếng Tày không mấy khó khăn.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CỦA TIẾNG TÀY Ở LÀO CAI Ngôn ngữ của ngƣời Tày ở Lào Cai cũng mang đặc trƣng chung của loại ngôn ngữ đơn lập, có thanh điệu. Nhƣ đã giới thiệu ở phần trƣớc, bên cạnh ngƣời Tày ở Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng, Bắc Hà, Sa Pa,… còn có các ngành địa phƣơng Pa Dí, Thu Lao ở Mƣờng Khƣơng, Si Ma Cai. Vì vậy, tiếng Tày ở Lào Cai, bên cạnh những đặc điểm ngôn ngữ chung, tƣơng đồng với tiếng Tày trong cả nƣớc còn có nhiều nét khác biệt về cách phát âm (âm độ, trƣờng độ, luyến láy,…) và từ vựng (phƣơng ngữ). Ở tỉnh Lào Cai, ngƣời Tày cƣ trú tại các huyện hoặc các xã đều có giọng nói mang ngữ điệu riêng.
Tại huyện Văn Bàn, ngƣời Tày Khu Khánh Yên nói giọng khác Tày Võ Lao. Ở huyện Bảo Yên, ngƣời Tày vùng Nghĩa Đô nói khác Tày ở Xuân Hòa, Việt Tiến, Long Khánh, Bảo Hà về một số âm vực khi phát âm các từ. Tiếng của ngƣời Tày Nghĩa Đô cũng theo ngôn ngữ tiếng Việt, ngoài 24 chữ cái của tiếng Việt, ngoài ra còn có thêm 4 chữ ghép từ 5 chữ cái dành riêng cho tiếng nói ngƣời Tày đó là: Pj- đọc là Pjờ; Phj - đọc là Phjờ; Bj- đọc là Bjờ; Mj - đọc là Mjờ, để ghép vào đầu một số tiếng Tày. Ví dụ nhƣ “con cá”, gọi là tua pja nếu dùng chữ P ghép với chữ ia thành chữ pia.
Từ pia tiếng Tày Nghĩa Đô là cái guồng quắc lót kéo sợi vải để 6 đƣa vào khung dệt và chữ P ghép với ia không thể đọc là chữ Pja đƣợc, trƣớc âm a phải là chữ Pjờ mới thành chữ Pja. Chữ đuông Bjoóc là bông hoa, nếu dùng chữ b ghép với ooc thành chữ boóc tiếng Tày Nghĩa Đô lại là cái đấu đong gạo, cái ống đựng tăm… Vì vậy, phải dùng chữ Bj ghép với ooc thành chữ Bjoóc mới thành bông hoa đƣợc. Hoặc chữ Phja là mắt các con vật, nếu chữ ph ghép với chữ a thành chữ Pha, Pha là vách nhà, hay vung đậy, phải dùng chữ phj với chữ a thành chữ Phja mới là mắt con vật còn chữ ph ghép với chữ ia thành chữ phia là tên loại cây, vỏ của nó có thể kéo thành sợi bện thừng. Ví dụ: Tua Pja là con cá, mạc Pjạ là con dao, thoong phja là đôi mắt, đuông bjoóc là bông hoa; Pú Phja là núi đá, Bâư Mjấu là lá trầu không, chọ Bjảo là nói điêu; Pja Mjáng là cá Nhàng… Mặt khác, trong ngôn ngữ của ngƣời Tày Nghĩa Đô còn có một thanh lửng (vần lửng) nằm giữa thanh bằng và thanh sắc.
Vần lửng này, chiếm tới 20% trong giao tiếp hàng ngày, chính vì tiếng có vần lửng này, đã khiến cho tiếng Tày Nghĩa Đô khó đọc hơn tiếng Tày ở các vùng khác trong tỉnh Lào Cai. Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng rất có thể tiếng Tày Nghĩa Đô chính là tuyến đệm của ngƣời Tày hai vùng của miền Bắc nƣớc ta. Một đặc điểm nữa trong tiếng Tày Nghĩa Đô, ở một số nhóm từ, phía sau chữ còn phải thêm vào một chữ s, khi phát âm mới chuẩn tiếng.