CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ THỂ DỤC THỂ THAO 1. Khái niệm mục tiêu và chức năng của quản lý thể dục thể thao 1. Khái niệm quản lý thể dục thể thao Khái niệm quản lý thể dục thể thao được giải thích bằng nhiều cách khác nhau và có thể nói chưa có một định nghĩa nào được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn. “Quản lý thể dục thể thao là hoạt động có tổ chức, có điều tiết của chủ thể (người quản lý) để hoàn thành niệm vụ nhất định: (Định nghĩa “Quản lý thể dục thể thao” trong sách giáo khoa “Quản lý thể dục thể thao”, của Liên Xô (cũ).
Định nghĩa này chỉ nhắc đến “Chủ thể (người quản lý)” mà không nêu lên khách thể quản lý là ai, và nêu “nhiệm vụ nhất định” là một cách nêu chung nhất. - Quản lý thể dục thể thao là một loại thủ đoạn tác động vào thể dục thể thao nhằm thực hiện mục tiêu của thể dục thể thao. (Định nghĩa “Quản lý thể dục thể thao” trong tài liệu “Quản lý học thể dục thể thao” của Nhật Bản. Đây là một định nghĩa khái quát.
- “Quản lý thể dục thể thao là quá trình sử dụng có hiệu quả nhân lực, vật lực để thể hiện nhiệm vụ của một đơn vị nào đó”. Trong định nghĩa này nhấn mạnh “để thực hiện nhiệm vụ của một đơn vị nào đó”. - “Quản lý thể dục thể thao là việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, giám sát và điều tiết đối với công tác thể dục thể thao để thu được hiệu quả xã hội tốt hơn”. Đây là một định nghĩa làm sáng tỏ hơn các mặt công tác cụ thể trong quản lý thể dục thể thao.
“Quản lý thể dục thể thao là một loạt các hoạt động tổng hợp, có mục tiêu xác định, có tổ chức thực hiện, có đánh giá hiệu quả nhằm phát triển sự nghiệp thể dục thể thao hoặc thực hiện các mục tiêu của công tác thể dục thể thao và không ngừng nâng cao hiệu quả của công tác thể dục thể thao”. So với các định nghĩa nêu trên thì đây là 1 một định nghĩa tương đối đầy đủ và toàn diện hơn cả. Trong xu thể phát triển xã hội hiện đại, thể dục thể thao trở thành nhu cầu của con người về sức khỏe và giải trí đồng thời là một trong những lĩnh vực kinh doanh tạo nguồn thu lớn cho các quốc gia có nền thể dục thể thao phát triển. Từ đó khái niệm quản lý thể dục thể thao có những thay đổi theo hướng quản lý kinh doanh.
Mullin (1980) cho rằng “Quản lý thể thao không phải là một khái niệm mới, tuy nhiên nó là dạng mới được tạo ra để miêu tả một nghề nghiệp cũ”. DeSensi (1990) đưa ra khái niệm “Quản lý thể thao là bất kỳ sự kết hợp các kỹ thuật liên quan đến lập kế hoạch tổ chức, điều khiển, kiểm soát, lập ngân quỹ, lãnh đạo, đánh giá trong bối cảnh tổ chức hay doanh nghiệp sở hữu sản phẩm hay dịch vụ chủ yếu có liên quan đến thể thao”. Năm 2002, Pitts và Stotlar cho rằng: “Quản lý thể thao là sự nghiên cứu và thực hành liên quan đến mối quan hệ của tất cả mọi người, các hoạt động, các tổ chức và kinh doanh liên quan đến sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi xúc tiến hoặc tổ chức bất cứ sản phẩm thể chất, thể thao và giải trí. Các sản phẩm thể thao có thể là hàng hóa, dịch vụ, con người, địa điểm hay ý tưởng”.
Từ những dẫn chứng về các khái niệm mới trong quản lý thể dục thể thao cho thấy bản chất của quản lý thể dục thể thao hiện nay bắt nguồn từ hai lĩnh vực cơ bản là thể thao và kinh doanh. Mục tiêu của quản lý thể dục thể thao Mục tiêu quản lý thể hiện trạng thái mong đợi có thể có và cần phải có của đối tượng quản lý ở một thời điểm hoặc sau mỗi thời gian nhất định. Việc tác động để xây dựng và phát triển một sự việc nào đó thì hoạt động đầu tiên là xác định các mục tiêu cần đạt tới. Mục tiêu quản lý được coi người nhận thức trước và tạo nên nó.
Nó do chủ thể quản lý tiến hành và được tập thể xây dựng một cách dân chủ. Mục tiêu quản lý thể dục thể thao được cụ thể hóa theo các khâu, các cấp của hệ thống quản lý thể dục thể thao và hệ thống quản lý xã hội. Mục tiêu quản lý thể dục thể thao xuất phát từ nhu cầu khách quan của đối tượng quản lý thể dục thể thao. Từ những quy luật chi phối đối tượng quản lý mang tính khách quan mà chủ thể quản lý xây dựng các mục tiêu chính.
Việc xác định đúng mục tiêu quản lý thể dục thể thao là căn cứ quan trọng để xây dựng và phát triển hệ thống quản lý thể dục thể thao, đồng thời quyết định diễn biến quá trình quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý và tạo nên hiệu 2 quả của quyết định quản lý. Từ tầm quan trọng của các mục tiêu trong quản lý, quá trình quản lý luôn được đánh giá trên cơ sở thực hiện mục tiêu của tổ chức (Sơ đồ 1. Các mục tiêu của Những tiền đề kế cơ sở hoạch Những phạm vi kết quả quan trọng Cách tổ chức phù hợp Các mục tiêu của cấp trên Các nguồn lực Khuyến nghị của cấp trên Trình bày sơ bộ về các mục tiêu cho cấp các mục tiêu của cần có dưới cấp dưới Các mục tiêu của cấp dưới Cấp trên xem xét Sự thực hiện Sự xem xét đánh sự tiến bộ theo tiếp theo của giá cuối cùng về Đầu vào từng thời kỳ cấp dưới sự thực hiện mới nhiệm vụ Những biện pháp Sự thực hiện điều chỉnh và sự cuối cùng của giúp đỡ của cấp trên cấp dưới Sơ đồ 1.1: Quá trình quản lý và đánh giá theo mục tiêu 3 Trong quản lý thể dục thể thao, mục tiêu quản lý tổng thể được phân loại theo sơ đồ (1. Mục tiêu lâu dài Phân theo thời Mục tiêu trung bình gian Mục tiêu ngắn Mục tiêu TDTT cả nước Phân theo Mục tiêu TDTT địa phương Mục tiêu phạm vi Mục tiêu TDTT các ngành quản lý TDTT Mục tiêu TDTT đơn vị Mục tiêu TDTT Quần chúng Mục tiêu TDTT Trường học Mục tiêu huấn luyện TTTTC Mục tiêu phát triển BMTC & CB Phân theo nội dung Mục tiêu phát triển CSVC KT TDTT Mục tiêu tài chính Mục tiêu TT&TT nghiên cứu khoa học Mục tiêu hợp tác quốc tế Mục tiêu xã hội hóa Mục tiêu tài chính, chính sách Sơ đồ 1.
Phân loại mục tiêu quản lý thể dục thể thao 1. Chức năng của quản lý thể dục thể thao Thuật ngữ chức năng quản lý được sử dụng nhằm chỉ ra những hoạt động hay loại công việc quản lý có tính chất giống nhau. Mỗi chức năng quản lý nêu ra những nhiệm vụ chủ yếu có tính chất chung nhất của các hoạt động quản lý. Có nhiều tranh luận về mặt học thuật khi bàn về các chức năng quản lý.
Trong thập niên 30, Gulick và Urwich nêu ra 7 chức năng quản lý trong từ viết tắt POSDCORB (P: Planning - Hoạch 4 đinh; O: Organifing - Tổ chức; S Staffing - Nhân sự; D: Directing - Chỉ huy; CO: Coordinating - Phối hợp; R Reviening - kiểm tra; B: Budgeting - Tài chính). Henri Fayol thì đề xuất 5 chức năng quản lý. Hoạch định, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra. Cuộc bàn luận về chủ đề có bao nhiêu chức năng quản lý giữa các nhà nghiên cứu quản lý vào cuối thập niên 80 ở Mỹ xoay quanh con số bốn hay năm chức năng.
Trong lĩnh vực thể dục thể thao, với nhiều nghiên cứu về các hoạt động quản lý, các nhà nghiên cứu chấp nhận 5 chức năng chính của quản lý thể dục thể thao (sơ đồ 1. Chức năng kế hoạch (Planning) Trong tiến trình quản lý, khởi đầu các hoạt động quản lý là việc thực hiện chức năng kế hoạch. Chức năng này nói lên rằng các nhà quản lý phải xác định mục tiêu của tổ chức, xây dựng chiến lược tổng thể xác định mục tiêu, thiết lập và phát triển hệ thống các kế hoạch hoạt động phù hợp nhằm đạt được mục tiêu. Kế hoạch liên quan đế dự báo và tiên liệu tương lai, những mục tiêu cần đạt được và những phương thức để đạt được các mục tiêu đó.
Nếu không lập kế hoạch thận trọng và đúng đắn thì sẽ dẫn đến thất bại trong quản lý. Kế hoạch phát triển thể dục thể thao là một hình thức cụ thể diễn đạt mục tiêu phát triển các lĩnh vực hoạt động thể dục thể thao. Dùng hình thức văn tự, biểu đồ… để diễn đạt các nội dung và trình tự thực hiện. Kế hoạch được báo cáo có thẩm quyền phê duyệt và cấp dưới có liên quan tổ chức thực hiện.
Chức năng tổ chức (Organizing) Chức năng tổ chức bao gồm các hoạt động xác định các nhiệm vụ phải làm và cách phối hợp các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, thông tin…) để thực hiện nhiệm vụ đề ra. Trong các lĩnh vực TDTT, tổ chức là chức năng cơ bản của quản lý TDTT nhằm biến mục tiêu và kế hoạch phát triển TDTT thành hiện thực. Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức là xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý TDTT, phát huy yếu tố con người và tài chính, vật chất, thời gian, thông tin nhằm hoàn thành mục tiêu và kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT. Nội dung chủ yếu của tổ chức gồm 3 mặt xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý TDTT, xây dựng và hoàn thiện các quy chế tổ chức quản lý, nắm vững quá trình thực hiện của hệ thống tổ chức.
5 Chức năng nhân sự (staffing). Đây là chức năng liên quan đến việc xác định nhân sự hay định biên chức năng nhân sự được định nghĩa là việc sắp xếp cương vị trong cơ cấu tổ chức thông qua việc xác định những đòi hỏi về nhân lực, sắp xếp, đề bạt, đánh giá và đào tạo con người. Trong thực tế nhiều tác giả về lý thuyết quản lý đã đưa ra quan điểm về nhân sự là một giai đoạn của tổ chức. Tuy nhiên trong thực tế việc xác định nhân sự hay định biên là một chức năng quản lý vì các lý do sau: Thứ nhất, việc xác định nhân sự trong tổ chức được các nhà quản lý xem là hệ quả của công tác tổ chức, ít quan tâm đến việc sắp xếp nhân sự vào các cương vị cuả tổ chức.