Tài liệu học tập các văn kiện hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Chuyên khảo phân tích Tài liệu học tập các văn kiện hội nghị lần thứ tám ban chấp hành trung ương đảng khóa xii dùng cho, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tài liệu học tập

2018

46
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHUYÊN ĐỀ 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045

1.1. I- ĐÁNH GIÁ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA X VỀ CHIẾN LƯỢC BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

1.1.1. 1. Thành tựu nổi bật

1.1.2. Hạn chế, yếu kém

1.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém và bài học kinh nghiệm

1.1.3.1. a) Nguyên nhân khách quan
1.1.3.2. b) Nguyên nhân chủ quan
1.1.3.3. c) Bài học kinh nghiệm

1.2. II- BỐI CẢNH, TÌNH HÌNH VÀ SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM

1.2.1. 1. Bối cảnh, tình hình

1.2.1.1. a) Bối cảnh, tình hình quốc tế
1.2.1.2. b) Bối cảnh, tình hình trong nước

1.2.2. Sự cần thiết ban hành Nghị quyết về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam

1.3. III- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM

1.3.1. 1. Quan điểm

Tóm tắt

I. Tài liệu học tập cho cán bộ đảng viên

Tài liệu học tập được biên soạn bởi Ban Tuyên giáo Trung ương ĐảngNhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật nhằm giúp cán bộ đảng viên ở cơ sở nắm vững và triển khai hiệu quả các nội dung từ Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII. Tài liệu này là công cụ quan trọng trong học tập chính trị, giúp đảng viên hiểu sâu và thực hiện đúng các quy định, chủ trương của Đảng.

1.1. Mục đích và ý nghĩa

Tài liệu hướng dẫn này không chỉ cung cấp kiến thức mà còn là cầu nối giữa chính sách của Đảng và thực tiễn tại cơ sở. Nó giúp đảng viên nâng cao nhận thức về các vấn đề kinh tế - xã hội, quốc phòng, và an ninh, đồng thời thúc đẩy việc thực hiện các quy định của Đảng một cách hiệu quả.

1.2. Cấu trúc và nội dung

Tài liệu bao gồm các chương trình nghị sự quan trọng từ Hội nghị, như Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt NamQuy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Mỗi phần được trình bày chi tiết, kèm theo phân tích và hướng dẫn cụ thể để đảng viên dễ dàng áp dụng.

II. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

Hội nghị lần thứ tám diễn ra từ ngày 02 đến 06-10-2018 tại Hà Nội, tập trung vào các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, và chiến lược biển. Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng, bao gồm Nghị quyết về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt NamQuy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

2.1. Các quyết định quan trọng

Hội nghị đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045, nhấn mạnh sự phát triển bền vững dựa trên ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Đây là bước tiến quan trọng trong việc định hướng phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

2.2. Đánh giá và triển khai

Hội nghị cũng đánh giá 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X, chỉ ra những thành tựu và hạn chế. Các bài học kinh nghiệm được rút ra để áp dụng vào chiến lược mới, đảm bảo sự phát triển toàn diện và bền vững.

III. Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam

Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, là trọng tâm của Hội nghị lần thứ tám. Chiến lược này nhằm biến Việt Nam thành quốc gia mạnh về biển, đảm bảo chủ quyền và phát triển kinh tế biển một cách bền vững.

3.1. Mục tiêu và quan điểm

Chiến lược tập trung vào việc phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia. Quan điểm của Đảng là lấy khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nền tảng cho sự phát triển.

3.2. Thách thức và giải pháp

Chiến lược cũng chỉ ra các thách thức như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường biển, và tranh chấp chủ quyền. Các giải pháp được đề xuất bao gồm tăng cường hợp tác quốc tế, đầu tư vào nghiên cứu khoa học, và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ biển.

IV. Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên

Quy định trách nhiệm nêu gương là một trong những nội dung quan trọng được thông qua tại Hội nghị lần thứ tám. Quy định này yêu cầu cán bộ, đảng viên, đặc biệt là các ủy viên Bộ Chính trị và Ban Bí thư, phải gương mẫu trong mọi hoạt động.

4.1. Nội dung chính

Quy định nhấn mạnh việc cán bộ, đảng viên phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của Đảng, đạo đức cách mạng, và luật pháp. Đây là yếu tố quan trọng để xây dựng niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn

Quy định này không chỉ là nguyên tắc đạo đức mà còn là công cụ để nâng cao hiệu quả quản lý và lãnh đạo. Nó giúp đảng viên trở thành tấm gương sáng trong việc thực hiện nhiệm vụ và phục vụ nhân dân.

21/02/2025
Tài liệu học tập các văn kiện hội nghị lần thứ tám ban chấp hành trung ương đảng khóa xii dùng cho cán bộ đảng viên ở cơ sở ban tuyên giáo trung ương đảng

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI NÓI ĐẦU Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 02 đến ngày 06-10-2018, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã họp Hội nghị lần thứ tám để bàn về các nội dung: l) Tình hình kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2018, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019; 2) Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; 3) Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; 4) Thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng; 5) Công tác cán bộ; 6) Báo cáo các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương đến Hội nghị Trung ương 8; 7) Báo cáo công tác tài chính đảng năm 2017. Hội nghị thông qua các văn kiện quan trọng sau đây: - Nghị quyết về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. - Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. - Kết luận về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2018; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2019.

Để giúp cán bộ, đảng viên ở cơ sở học tập, quán triệt, nắm vững và triển khai thực hiện các nội dung được thông qua tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII có hiệu quả, Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng biên soạn và phối hợp với Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản Tài liệu học tập các văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (Dùng cho cán bộ đảng viên ở cơ sở). Xin trân trọng giới thiệu cuốn tài liệu với các đồng chí và quý vị độc giả. Tháng 11 năm 2018 BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT Chuyên đề 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045 Việt Nam là quốc gia biển, có lịch sử, truyền thống, văn hóa và quá trình dựng nước, giữ nước gắn liền với biển. Biển Đông có vị trí đặc biệt quan trọng về địa chiến lược, chính trị, kinh tế, tự nhiên đối với nước ta.

Nghị quyết số 09- NQ/TW ngày 08-02-2007 của Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu tổng quát phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là chủ trương lớn, phù hợp với xu thế chung của thế giới và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết là yêu cầu cấp thiết, nhằm đánh giá toàn diện, đầy đủ, khách quan và chính xác, chỉ ra những thành tựu hạn chế, yếu kém, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; đồng thời, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, dự báo tình hình và bối cảnh làm căn cứ xây dựng và ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết bao hàm đầy đủ ba trụ cột của phát triển bền vững là kinh tế, xã hội và môi trường, thể hiện ý chí, quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng của Nhân dân. I- ĐÁNH GIÁ 10 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA X VỀ CHIẾN LƯỢC BIỂN VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 1.

Thành tựu nổi bật Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản, quan trọng, tích cực: - Công tác quán triệt, thể chế hóa Nghị quyết đã được triển khai tích cực. Nhận thức của hệ thống chính trị, toàn xã hội và kiều bào ta ở nước ngoài về biển, đảo được nâng lên. Tư duy hướng mạnh ra biển, phát huy tiềm năng, lợi thế của biển để phát triển đất nước đã được đổi mới. - Trên biển, chủ quyền quốc gia được giữ vững, an ninh cơ bản được đảm bảo; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân đã được xây dựng, chiến lược quốc phòng được điều chỉnh, mở rộng phòng thủ từ trong đất liền ra bảo vệ chủ quyền biển, đảo với nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều lực lượng theo nguyên tắc bảo vệ từ xa, từ sớm; các lực lượng tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh được thành lập, xây dựng.

Nhiều lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, trở thành nòng cốt bảo vệ chủ quyền, an ninh, bảo đảm trật tự và thực thi pháp luật trên biển, bảo đảm an toàn cho người dân và các hoạt động kinh tế trên biển, khu vực ven biển. - Công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, đảo được triển khai chủ động, toàn diện; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi chính đáng của quốc gia - dân tộc, nâng cao vị thế đất nước; quan hệ hữu nghị hợp tác và tin cậy chính trị với các nước láng giềng, các đối tác lớn, quan trọng được mở rộng, phát triển; các tranh chấp, bất đồng trên biển được giải quyết và xử lý một cách chủ động và tích cực. Hợp tác quốc tế được triển khai ở các cấp, các ngành với nhiều đối tác đa dạng về hình thức và trải rộng trên các lĩnh vực, góp phần nâng cao năng lực quản lý, khai thác, sử dụng biển, bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai. - Hướng phát triển kinh tế - xã hội dựa vào tiềm năng, lợi thế của biển được hình thành.

Các vùng biển, các địa phương có biển đã trở thành khu vực phát triển năng động, thu hút nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài, tạo động lực phát triển, mở cửa, hội nhập quốc tế, với mức đóng góp vào GDP cả nước luôn đạt lên 60% trong giai đoạn 2007 - 2017. Kinh tế thuần biển tiếp tục tăng cường, chú trọng đến các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn (khai thác chế biến dầu khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến hai san; du lịch và kinh tế hải đảo). Các khu kinh tế, khu công nghiệp gắn với hình thành chuỗi đô thị ven biển được phát triển. Trong thời gian ngắn, hạ tầng cơ sở đã được tập trung đầu tư, nâng cấp, kết nối giao thương trong nước và quốc tế.

Đời sống văn hóa, xã hội, việc làm, thu nhập của người dân ven biển, các vùng biên và các đảo được nâng lên rõ rệt. - Công tác nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển được thực hiện tích cực, bước đầu đã triển khai ở các vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề. Đến năm 2017, hải đồ tỷ lệ 1:200.000 với khoảng 82% diện tích các vùng biển Việt Nam được thành lập; việc điều tra địa hình đáy biển khoảng 24,5% diện tích vùng biển Việt Nam ở các tỷ lệ từ l:500.000 đã hoàn thành; công nghệ tìm kiếm, thăm dò dầu khí trên biển cơ bản được làm chủ. Phát triển nguồn nhân lực biển đạt được một số kết quả.

Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. - Thể chế, chính sách quản lý tổng hợp và thống nhất về biển, đảo được hình thành và bước đầu phát huy hiệu lực hiệu quả; Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam ở Trung ương và các Chi cục Biển và Hải đảo ở địa phương đã được thành lập. Hạn chế, yếu kém - Tư duy, nhận thức về phát triển bền vững biển chưa đầy đủ, toàn diện, công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức về một số nội dung Nghị quyết còn hạn chế, chưa tạo được sự đồng thuận chung cần thiết của toàn xã hội và kiều bào ta ở nước ngoài. - Công tác bảo đảm an ninh, an toàn trên biển, trật tự an toàn xã hội ở các vùng ven biển gặp nhiều khó khăn.

Hoạt động nghiên cứu, dự báo chiến lược để chủ động phòng ngừa, giải quyết, xử lý các tình huống tranh chấp, xung đột trên biển chưa theo kịp diễn biến nhanh, phức tạp của tình hình khu vực và thế giới. - Các chương trình, dự án hợp tác quốc tế về biển, đảo vẫn còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng; thiếu sự điều phối thống nhất trong việc vận động, thu hút nguồn lực, hỗ trợ của quốc tế, chưa tận dụng hiệu quả tri thức và công nghệ tiên tiến về biển. - Chưa phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới của các địa phương có biển; chưa tạo được chuỗi kết nối giữa các địa phương có biển và các địa phương không có biển. - Một số mục tiêu như đóng góp của các ngành kinh tế thuần biển, các huyện ven biển vào GDP cả nước, thu nhập bình quân của người dân khu vực này1, kết nối toàn tuyến đường ven biển đường cao tốc Bắc - Nam, phát triển cảng biển mang tầm cỡ quốc tế chưa đạt được.

- Một số ngành kinh tế biển mũi nhọn như hàng hải, dầu khí, công nghiệp đóng tàu chưa tận dụng được cơ hội, các tiềm năng lợi thế để phát triển. - Mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh; giữa kinh tế với bảo vệ môi trường chưa được gắn kết chặt chẽ, trong một số trường hợp còn xung đột. Chưa bảo đảm hài hòa giữa khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển với công tác bảo vệ, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển, ven biển, ô nhiễm môi trường biển có lúc, có nơi vẫn còn diễn ra nghiêm trọng như sự cố môi trường biển tại bốn tỉnh miền Trung; ô nhiễm rác thải nhựa đại dương đã trở thành vấn đề cấp bách, mang tính toàn cầu; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học suy giảm; công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn hạn chế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ