Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp vận tải biển qua mua bán nợ tại DATC

Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp vận tải biển qua mua bán nợ tại DATC. Giải pháp tài chính, giảm nợ xấu, phục hồi hoạt động kinh doanh hiệu quả.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Tác giả

Hoàng Thị Duyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIẺU ĐỒ, HÌNH

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN cứu VÀ cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ TÁI Cơ CẤU TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THÔNG QUA HOẠT ĐỌNG MUA BÁN NỌ TẠI CÔNG TY MUA BÁN NỢ

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.1.1. Các nghiên cứu quốc tế

1.1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.1.3. Khoảng trống nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý luận về cơ cấu tài chính doanh nghiệp và tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ

1.2.1. Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp

1.2.2. Tái cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua hoạt độngmua bán nợ

1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá kết quả tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ của Công ty mua bán nợ

1.2.4. Nhân tố ảnh hưởng tới tái cơ cấu tài chính doanh nghiệpthông qua hoạt động mua bán nợ

1.2.4.1. Nhân tố khách quan
1.2.4.2. Nhân tố chủ quan

1.2.5. Kinh nghiệm về tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ của một số nước trên thế giới và bài học rút ra cho Công ty mua bán nợ Việt Nam

1.2.5.1. Kinh nghiệm của các Công ty mua bán nợ trên thế giới
1.2.5.2. Bài học rút ra cho Công ty mua bán nợ Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN cứu

2.1. Quy trình nghiên cứu

2.2. Nguồn tài liệu và thông tin nghiên cứu

2.3. Xử lý thông tin dữ liệu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp phân tích

2.4.2. Phương pháp tổng họp

2.4.3. Phương pháp thống kê

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁI cơ CẤU TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP NGÀNH VẬN TẢI BIỂN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỌ VIỆT NAM

3.1. Lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của DATC

3.1.1. Lịch sử hình thành

3.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của DATC

3.1.3. Cơ cấu tổ chức quản lý

3.2. Nội dung tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp ngành vận tải biển thông qua hoạt động mua bán nợ tại DATC

3.2.1. Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ tại DATC

3.2.2. Thực trạng tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp ngành vận tải biến thông qua hoạt động mua bán nợ của DATC - Nghiên cứu tình huống tại Công ty TNHH MTV Vận tải Biển Đông

3.3. Đánh giá chung về tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ của DATC

3.3.1. Thành tựu đạt được

3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

3.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại và hạn chế

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TÁI cơ CẤU TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG MUA BÁN NỢ TẠI CÔNG TY TNHH MUA BÁN NỢ VIỆT NAM

4.1. Phương hướng và yêu cầu đặt ra cho hoạt động mua bán nợ

4.1.1. Phương hướng chung và phương hướng cụ thể

4.1.2. Yêu cầu đặt ra cho hoạt động mua bán nợ gắn với tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp

4.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ

4.2.1. Xây dựng hệ thống quy trình, quy chế quản trị nội bộ

4.2.2. Áp dụng các biện pháp mua bán xử lý nợ mới

4.2.3. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

4.2.4. ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thông tin

4.2.5. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIẾU ĐÒ, HÌNH

LỜI MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về Tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ Hướng đi tất yếu

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đầy biến động, doanh nghiệp vận tải biển thường xuyên đối mặt với các khó khăn về tài chính, đặc biệt là tình trạng nợ xấu ngày càng gia tăng. Sự hình thành mối quan hệ vay – cho vay tạo nên sợi dây công nợ phức tạp giữa doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng. Khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đúng hạn, hệ thống ngân hàng sẽ chịu áp lực lớn từ nợ xấu, đe dọa an toàn tài chính quốc gia và gây đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh.

Hoạt động mua bán nợ đã nổi lên như một giải pháp hữu hiệu, góp phần quan trọng giúp doanh nghiệp lành mạnh hóa tài chính, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Phát triển thị trường mua bán nợ (nhất là nợ xấu) giúp khơi thông dòng vốn, hỗ trợ các doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh một cách bền vững. Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm mà Chính phủ ưu tiên để ổn định thị trường tài chính và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Quá trình tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp ngành vận tải biển thông qua mua bán nợ đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Theo các nghiên cứu, hoạt động này giúp các doanh nghiệp giảm nghĩa vụ trả nợ hàng ngàn tỷ đồng, tạo đà cho sự phục hồi, ổn định tình hình xã hội và tạo việc làm cho hàng ngàn lao động. Đặc biệt, nó còn hỗ trợ ngành vận tải biển, cảng biển Việt Nam và các ngành phụ trợ liên quan từng bước thoát khỏi khó khăn. Ví dụ điển hình, Tổng công ty hàng hải Việt Nam đã hoàn thành IPO, và nhiều đơn vị thành viên như Công ty cổ phần Vận tải biển Vinaship, Công ty cổ phần Vận tải biển Việt Nam, Công ty TNHH MTV Vận tải Biển Đông đã từng bước phục hồi hoạt động kinh doanh và có sự tăng trưởng dương sau nhiều năm thua lỗ liên tục từ 2013-2017. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, hoạt động xử lý nợ và tái cơ cấu tài chính vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, khiến hiệu quả chưa thực sự tối ưu. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của toàn ngành. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một cơ cấu tài chính vững mạnh, giảm thiểu rủi ro tài chính và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. (Hoàng Thị Duyên, 2022).

1.1. Tầm quan trọng của Tái cơ cấu tài chính trong ngành vận tải biển

Ngành vận tải biển đóng vai trò xương sống trong thương mại quốc tế của Việt Nam, chịu trách nhiệm vận chuyển trên 90% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, đây là ngành đòi hỏi vốn đầu tư lớn, tiềm ẩn nhiều rủi ro tài chính do biến động thị trường, giá cước, và các yếu tố địa chính trị. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn về cơ cấu tài chính, như tỷ lệ nợ quá cao, khả năng thanh toán giảm sút, toàn bộ chuỗi cung ứng và nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng. Tái cơ cấu tài chính không chỉ giúp từng doanh nghiệp vận tải biển thoát khỏi nguy cơ phá sản, mà còn bảo vệ hệ thống ngân hàng khỏi gánh nặng nợ xấu, duy trì sự ổn định của thị trường tài chính và đảm bảo an ninh kinh tế quốc gia. Việc điều chỉnh cơ cấu tài chính phù hợp với từng giai đoạn phát triển và biến động môi trường kinh doanh là nhiệm vụ sống còn. Trong ngắn hạn, nó cải thiện khả năng thanh toán; trong dài hạn, nó tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp và đảm bảo nguồn vốn cho tăng trưởng tương lai.

1.2. Cơ sở lý luận về tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp và hoạt động mua bán nợ

Cơ cấu tài chính doanh nghiệp được hiểu là sự kết hợp các nguồn vốn ngắn hạn và dài hạn để tài trợ cho tài sản, với mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp (Ross và cộng sự, 2008). Tái cơ cấu tài chính là quá trình thay đổi căn bản cơ cấu tài chính hiện tại, nhằm thiết lập một cấu trúc phù hợp hơn với giai đoạn phát triển và biến động thị trường. Các lý do chính cho việc này bao gồm: thua lỗ kéo dài, mất cân đối cơ cấu tài chính, tăng trưởng quá nóng, chiến lược đầu tư kém hiệu quả hoặc thay đổi ngành nghề kinh doanh. Trong bối cảnh này, mua bán nợ là hoạt động chuyển giao quyền đòi nợ từ bên bán sang bên mua, giúp các tổ chức tín dụng xử lý nợ xấu và hỗ trợ doanh nghiệp khách nợ tái cơ cấu tài chính (Nghị định 69/2016/NĐ-CP). Các công ty mua bán nợ như DATC đóng vai trò trung gian quan trọng, giúp doanh nghiệp cơ cấu lại nguồn lực, giảm nghĩa vụ trả nợ, và tăng khả năng vay vốn để phục hồi hoạt động kinh doanh.

II. Thách thức lớn khi Tái cơ cấu tài chính vận tải biển Vấn đề nợ xấu

Ngành vận tải biển vốn dĩ là một lĩnh vực kinh doanh mang tính đặc thù cao, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khổng lồ vào tàu thuyền, cơ sở hạ tầng, và công nghệ. Do đó, khi đối mặt với những biến động của thị trường toàn cầu, như cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 hay những thay đổi về giá cước, các doanh nghiệp vận tải biển dễ dàng rơi vào tình trạng nợ xấu. Tình hình này càng trở nên nghiêm trọng khi quy mô khoản nợ ngày càng lớn, tính chất phức tạp hơn do sự tham gia của nhiều tổ chức tín dụng khác nhau, thậm chí mang tính liên quốc gia. Các khoản nợ có tính chất “Nhà nước” cũng tạo thêm gánh nặng, với cơ chế xử lý cứng nhắc, gây ra sự “lệch pha” với việc xử lý nợ xấu thương mại và có nguy cơ làm đổ vỡ phương án tái cơ cấu doanh nghiệp.

Một thách thức lớn khác nằm ở phương pháp định giá khoản nợ. Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có bộ tiêu chuẩn riêng về việc định giá đối với nợ xấu, dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình đàm phán mua bán. Bên bán nợ luôn muốn giá cao, trong khi bên mua chỉ chấp nhận mức thấp do rủi ro tài chính và khả năng thu hồi vốn khó khăn. Sự không rõ ràng này kéo dài thời gian xử lý nợ, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tiến độ tái cơ cấu tài chính vận tải biển.

Ngoài ra, sau khi được tái cơ cấu tài chính, các doanh nghiệp thường rất khó tiếp cận nguồn vốn mới, dù đây là yếu tố thiết yếu để khởi động quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng thường dè dặt trong việc tái cấp vốn, và các nhà đầu tư có thể “quay đầu” khi thấy cơ hội khác tốt hơn. Điều này khiến cho việc đầu tư, phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vận tải biển bị chậm lại, ảnh hưởng đến dòng tiềnkhả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Cuối cùng, môi trường pháp lý chưa đủ mạnh cũng là một rào cản. Khung pháp lý hiện hành chưa hoàn thiện để điều tiết hoạt động mua bán nợ một cách minh bạch, bình đẳng, khiến hoạt động này nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tái cơ cấu tài chính gặp nhiều khó khăn. Để thực sự thành công, cần có sự điều chỉnh và bổ sung để tạo môi trường thuận lợi hơn cho quá trình tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ. (Hoàng Thị Duyên, 2022).

2.1. Nợ xấu và sự mất cân đối cơ cấu tài chính của doanh nghiệp vận tải biển

Ngành vận tải biển thường xuyên đối mặt với các chu kỳ kinh tế và biến động giá cước, dẫn đến doanh thu không ổn định. Khi doanh nghiệp không thể đáp ứng nghĩa vụ trả nợ, nợ xấu sẽ tích tụ, làm mất cân đối nghiêm trọng cơ cấu tài chính. Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao bất thường, giảm sút khả năng thanh toán, và suy yếu dòng tiền là những dấu hiệu rõ ràng. Sự mất cân đối này không chỉ làm tăng rủi ro tài chính cho doanh nghiệp mà còn gây áp lực lên hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Việc không có khả năng thanh toán nợ đúng hạn còn ảnh hưởng đến uy tín và khả năng tiếp cận vốn trong tương lai của doanh nghiệp vận tải biển, cản trở các kế hoạch đầu tư và mở rộng.

2.2. Hạn chế trong khung pháp lý và định giá khoản nợ xấu

Mặc dù thị trường mua bán nợ đã phát triển, nhưng khung pháp lý tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế. Các quy định về định giá khoản nợ chưa thực sự rõ ràng và thống nhất, gây khó khăn cho cả bên bán lẫn bên mua trong việc xác định mức giá hợp lý. Thiếu một bộ tiêu chuẩn định giá chuyên biệt cho nợ xấu làm chậm trễ quá trình đàm phán, kéo dài thời gian xử lý và giảm hiệu quả của hoạt động tái cơ cấu tài chính. Điều này dẫn đến sự thiếu minh bạch, gây e ngại cho các nhà đầu tư tiềm năng và làm giảm tính cạnh tranh của thị trường mua bán nợ. Việc hoàn thiện các quy định pháp lý và phát triển phương pháp định giá khoản nợ chuẩn hóa là cần thiết để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ.

III. Bí quyết DATC Tái cơ cấu tài chính vận tải biển Giải pháp mua bán nợ hiệu quả

DATC (Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam) được thành lập với vai trò là công cụ quan trọng của Chính phủ nhằm hỗ trợ tái cơ cấu tài chính và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt trong các ngành trọng điểm như vận tải biển. DATC tiếp nhận, mua và xử lý khoản nợ cũng như tài sản tồn đọng, với mục tiêu làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vai trò của DATC không chỉ dừng lại ở việc mua lại các khoản nợ xấu từ các tổ chức tín dụng mà còn tham gia sâu rộng vào quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp khách nợ, giúp họ khôi phục và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thông qua hoạt động mua bán nợ, DATC đóng vai trò là chủ nợ chính, từ đó có thể áp dụng các biện pháp xử lý tài chính linh hoạt và phù hợp. Các giải pháp này bao gồm việc cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ như khoanh nợ, giãn nợ, hoặc thậm chí là xóa nợ một phần để giảm gánh nặng chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Một trong những biện pháp chiến lược và hiệu quả nhất của DATCchuyển nợ thành vốn góp. Biện pháp này không chỉ giúp giảm nghĩa vụ nợ mà còn cho phép DATC tham gia trực tiếp vào quản trị, điều hành doanh nghiệp, cung cấp sự hỗ trợ về vốn và kinh nghiệm để phục hồi hoạt động kinh doanh.

Để đạt được hiệu quả cao, DATC thực hiện một quy trình chặt chẽ từ việc lập kế hoạch, đàm phán, đến triển khai và đánh giá. Việc tiếp nhận thông tin, đánh giá chi tiết khoản nợ và tình hình của khách nợ là bước khởi đầu quan trọng. DATC phân tích kỹ lưỡng các chỉ tiêu tài chính như quy mô vốn, tài sản, khả năng thanh toán, dòng tiền, cũng như các yếu tố phi tài chính như ngành nghề kinh doanh, đối tác, khách hàng. Dựa trên những phân tích này, DATC xây dựng phương án mua bán nợtái cơ cấu tài chính tối ưu, đảm bảo lợi ích cho cả doanh nghiệp và nhà nước.

Theo báo cáo của DATC, hoạt động này đã giúp hàng ngàn lao động có việc làm, hỗ trợ nhiều doanh nghiệp vận tải biển vượt qua khó khăn. Ví dụ điển hình như Tổng công ty Hàng hải Việt Nam và các đơn vị thành viên đã có sự tăng trưởng tích cực sau khi DATC tham gia tái cơ cấu tài chính. Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy hiệu quả, DATC cần không ngừng hoàn thiện quy trình, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thông tin, nhằm nâng cao tính minh bạch và tốc độ xử lý khoản nợ phức tạp. Sự linh hoạt trong chính sách và quy trình là chìa khóa để DATC tiếp tục là công cụ hữu hiệu trong việc tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ tại Việt Nam. (Hoàng Thị Duyên, 2022).

3.1. Chức năng và nhiệm vụ cốt lõi của DATC trong tái cơ cấu doanh nghiệp

DATC (Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam) được giao hai chức năng chính: chức năng chính trị – xã hội và chức năng kinh doanh. Về chính trị – xã hội, DATC là công cụ của Chính phủ để hỗ trợ tái cơ cấu, sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước thông qua hoạt động tiếp nhận, mua và xử lý khoản nợ cũng như tài sản tồn đọng. Về kinh doanh, DATC sử dụng vốn nhà nước để mua, xử lý các khoản nợ và tài sản theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn, đồng thời đảm bảo hiệu quả hoạt động theo cơ chế thị trường. Các nhiệm vụ trọng tâm bao gồm tiếp nhận và xử lý khoản nợ loại trừ khi cổ phần hóa, mua nợ xấu từ các tổ chức tín dụng, và đặc biệt là tái cơ cấu doanh nghiệp thông qua mua bán nợ, giúp các doanh nghiệp vận tải biển đủ điều kiện cổ phần hóa hoặc phục hồi hoạt động kinh doanh. DATC tập trung vào các doanh nghiệp có khả năng phục hồi, có lợi ích cho cả doanh nghiệp, DATC, và tác động tích cực đến kinh tế – xã hội.

3.2. Chính sách mua và xử lý nợ tối ưu của DATC cho ngành vận tải biển

Chính sách mua và xử lý khoản nợ của DATC là yếu tố then chốt quyết định thành công của quá trình tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ. DATC thường xây dựng các phương án mua khoản nợ với mức giá hợp lý, dựa trên kết quả định giá khoản nợkhả năng trả nợ của khách nợ. Sau khi mua nợ, DATC áp dụng nhiều biện pháp xử lý tài chính đa dạng. Đối với các doanh nghiệp vận tải biển có tiềm năng phục hồi nhưng thiếu vốn lưu động, DATC có thể khoanh nợ, giãn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Với các doanh nghiệp có chi phí tài chính cao, DATC xem xét giảm nợ, xóa nợ hoặc điều chỉnh lãi suất. Đặc biệt, biện pháp chuyển nợ thành vốn góp cho phép DATC tham gia sâu vào quản trị và điều hành, cung cấp nguồn vốn mới và hỗ trợ kỹ thuật, giúp doanh nghiệp tập trung vào phục hồi hoạt động kinh doanh. Sự linh hoạt và đa dạng trong chính sách giúp DATC tối đa hóa khả năng thu hồi vốn và nâng cao hiệu quả tái cơ cấu.

IV. Hướng dẫn Quy trình Tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ

Quy trình tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ tại DATC là một chuỗi các giai đoạn và bước công việc được thiết kế khoa học, nhằm đảm bảo hiệu quả tối đa cho quá trình phục hồi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải biển.

Giai đoạn đầu tiên là Lập kế hoạch mua bán và xử lý khoản nợ. Giai đoạn này bắt đầu bằng việc tiếp nhận và thu thập thông tin chi tiết về khoản nợ, khách nợ (tức là doanh nghiệp vận tải biển), và chủ nợ (các tổ chức tín dụng). DATC tiến hành tổ chức hội nghị chủ nợ để nắm bắt tình hình công nợ, tài sản bảo đảm, đồng thời làm việc trực tiếp với khách nợ để thu thập báo cáo tài chính và thông tin hoạt động kinh doanh. Sau đó, DATC thực hiện đánh giá sơ bộ về khoản nợ, phân loại theo thời hạn thanh toán (chưa đến hạn, đến hạn, quá hạn) và hình thức bảo đảm (có hoặc không có tài sản bảo đảm, bảo đảm bằng tàu biển, quyền sử dụng đất, v.v.). Việc đánh giá khách nợ bao gồm phân tích các chỉ tiêu tài chính như quy mô vốn, tài sản, tình hình dòng tiền, khả năng thanh toán, và các yếu tố phi tài chính như danh sách khách hàng, đối tác, vấn đề pháp lý. Cuối cùng, DATC cũng xem xét cách thức xử lý nợ trước đây của chủ nợ và nhu cầu bán nợ của họ để tạo thuận lợi cho đàm phán.

Sau khi có cái nhìn tổng thể, bước Soát xét chi tiết được thực hiện, đây là giai đoạn quan trọng nhất. DATC làm việc trực tiếp với khách nợ và chủ nợ để xem xét, đánh giá mức độ tin cậy của thông tin đã thu thập. Nội dung chính bao gồm soát xét khoản nợ và tài sản bảo đảm, tiến hành định giá (có thể thông qua công ty thẩm định giá chuyên nghiệp), và phân tích tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của khách nợ (tài sản cố định, hàng tồn kho, các khoản phải thu/phải trả, doanh thu, chi phí tài chính, dòng tiền thực). Kết quả soát xét này là cơ sở để xây dựng phương án mua bán và xử lý nợ gắn với tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp tối ưu. Phương án này sẽ đề xuất mức giá mua nợ, các biện pháp cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh (tăng doanh thu, giảm chi phí) và các biện pháp cải thiện tình hình tài chính (khoanh nợ, giãn nợ, giảm nợ, xóa nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp). Cuối cùng, phương án này sẽ được trình cấp có thẩm quyền của DATC xem xét và phê duyệt.

Giai đoạn tiếp theo là Tổ chức thực hiện mua bán nợ, bao gồm đàm phán với các tổ chức tín dụng về mức giá và các thỏa thuận mua bán nợ, sau đó ký kết và thực hiện hợp đồng. Khi DATC trở thành chủ nợ mới, sẽ tiến hành Xác định giá trị doanh nghiệp để tái cơ cấu và áp dụng các biện pháp xử lý khoản nợ đã mua. Quá trình này không chỉ giúp doanh nghiệp vận tải biển giảm áp lực tài chính mà còn mở ra cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh bền vững. (Hoàng Thị Duyên, 2022).

4.1. Lập kế hoạch mua bán nợ và xác định phương án tái cơ cấu tài chính

Việc lập kế hoạch mua bán khoản nợ là bước khởi đầu then chốt trong quy trình tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ. DATC tiến hành thu thập thông tin toàn diện về khoản nợ, doanh nghiệp vận tải biển khách nợ và các tổ chức tín dụng chủ nợ. Điều này bao gồm việc phân loại khoản nợ theo thời hạn và hình thức bảo đảm, đồng thời phân tích sâu các chỉ tiêu tài chính (như quy mô vốn, dòng tiền, khả năng thanh toán) và phi tài chính của khách nợ (ngành nghề kinh doanh, đối tác). Mục tiêu là đưa ra đánh giá chính xác về tiềm năng xử lý khoản nợphục hồi hoạt động kinh doanh. Sau đó, DATC tiến hành soát xét chi tiết, bao gồm định giá khoản nợ và tài sản bảo đảm, đánh giá tình hình tài chính thực tế và hoạt động kinh doanh. Kết quả này là nền tảng để xây dựng phương án mua bán và xử lý nợ tối ưu, đề xuất các biện pháp cải thiện sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính, như khoanh nợ, giãn nợ, giảm nợ, xóa nợ, hoặc chuyển nợ thành vốn góp.

4.2. Triển khai và áp dụng các biện pháp xử lý nợ đã mua để tái cơ cấu

Sau khi phương án tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp được phê duyệt, DATC tiến hành đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán nợ với các tổ chức tín dụng. Khi DATC trở thành chủ nợ mới, bước quan trọng tiếp theo là xác định giá trị doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại, có thể thông qua thỏa thuận hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp. Dựa trên giá trị này, DATCdoanh nghiệp vận tải biển khách nợ sẽ trao đổi để thống nhất các biện pháp xử lý tài chính. Các biện pháp này có thể bao gồm điều chỉnh kỳ hạn trả nợ (khoanh nợ, giãn nợ), điều chỉnh số tiền trả nợ (giảm lãi suất, xóa nợ), hoặc chuyển nợ thành vốn góp. Việc chuyển nợ thành vốn góp đặc biệt hiệu quả khi DATC muốn tham gia trực tiếp vào quản trị, điều hành và cung cấp nguồn vốn mới để phục hồi hoạt động kinh doanh. Trong suốt quá trình, DATC liên tục điều chỉnh phương án nếu cần và đánh giá kết quả để đảm bảo mục tiêu tái cơ cấu tài chính đạt được.

V. Ứng dụng thực tiễn Tái cơ cấu tài chính vận tải biển Trường hợp Biển Đông

Nghiên cứu tình huống tại Công ty TNHH MTV Vận tải Biển Đông là một ví dụ điển hình về hiệu quả của hoạt động tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ của DATC. Ngành vận tải biển Việt Nam, sau giai đoạn phát triển mạnh mẽ từ những năm 1990 và khi Việt Nam gia nhập WTO, đã phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008, khiến giá vận chuyển sụt giảm nghiêm trọng. Nhiều doanh nghiệp vận tải biển lớn lao đao, và đến năm 2013, không ít công ty nhỏ đã phải bán tàu hoặc tiến hành thủ tục phá sản. Trong bối cảnh đó, Công ty TNHH MTV Vận tải Biển Đông cũng không nằm ngoài vòng xoáy khó khăn, đối mặt với gánh nặng khoản nợ lớn và rủi ro tài chính cao.

Đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán và phá sản, Công ty Vận tải Biển Đông đã được DATC tiếp cận và triển khai phương án tái cơ cấu tài chính thông qua mua bán nợ. Quy trình này được DATC thực hiện một cách bài bản, bắt đầu từ việc thu thập thông tin về khoản nợ, đánh giá sơ bộ tình hình tài chính và hoạt động của Biển Đông. DATC đã tiến hành soát xét chi tiết các báo cáo tài chính của công ty, phân tích cơ cấu tài chính hiện tại, dòng tiền, và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán. Đặc biệt, DATC đã xem xét kỹ lưỡng các tài sản bảo đảm, tiềm năng phục hồi hoạt động kinh doanh của Biển Đông dựa trên thị trường và năng lực nội tại.

Sau khi có đầy đủ thông tin, DATC đã xây dựng và phê duyệt phương án mua bán nợ gắn với tái cơ cấu tài chính cho Công ty Vận tải Biển Đông. Phương án này không chỉ tập trung vào việc xử lý các khoản nợ xấu mà còn đề xuất các biện pháp cải thiện hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của công ty. Các biện pháp xử lý khoản nợ đã mua bao gồm việc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ (ví dụ, khoanh nợ, giãn nợ) hoặc thậm chí là chuyển nợ thành vốn góp để DATC có thể trực tiếp tham gia hỗ trợ. Sự can thiệp kịp thời và hiệu quả của DATC đã giúp Biển Đông giảm bớt gánh nặng tài chính, tái cấu trúc cơ cấu tài chính một cách lành mạnh hơn. Điều này đã tạo điều kiện cho công ty tập trung vào phục hồi hoạt động kinh doanh, ổn định sản xuất và từng bước đạt được tăng trưởng dương sau nhiều năm thua lỗ. Thành công của Biển Đông chứng minh tầm quan trọng của DATC trong việc giải cứu và tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp trong ngành vận tải biển, góp phần vào sự ổn định và phát triển chung của nền kinh tế. (Hoàng Thị Duyên, 2022).

5.1. Phân tích thực trạng cơ cấu tài chính của Công ty Vận tải Biển Đông trước tái cơ cấu

Trước khi được DATC hỗ trợ, Công ty TNHH MTV Vận tải Biển Đông (một doanh nghiệp vận tải biển điển hình) phải đối mặt với tình trạng cơ cấu tài chính mất cân đối nghiêm trọng. Báo cáo tài chính cho thấy khoản nợ phải trả các tổ chức tín dụng rất lớn, đặc biệt là nợ quá hạn và lãi suất phải trả cao, gây áp lực nặng nề lên dòng tiềnkhả năng thanh toán. Quy mô vốn kinh doanh bình quân có thể đã sụt giảm hoặc tăng trưởng dựa trên nợ vay quá nhiều, dẫn đến rủi ro tài chính cao. Vốn chủ sở hữu bị bào mòn do thua lỗ kéo dài. Tình hình này khiến công ty không thể tự chủ về tài chính, gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản, chưa nói đến việc đầu tư phát triển. Thực trạng này là bức tranh chung của nhiều doanh nghiệp vận tải biển trong giai đoạn khó khăn, khi nợ xấumất cân đối tài chính trở thành vấn đề sống còn.

5.2. Kết quả và tác động của hoạt động mua bán nợ DATC đối với Biển Đông

Sau khi DATC tham gia tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ cho Công ty Vận tải Biển Đông, kết quả đã mang lại những tác động tích cực rõ rệt. DATC đã thực hiện các biện pháp xử lý tài chính như cơ cấu lại kỳ hạn trả nợ, giảm nghĩa vụ lãi suất, hoặc chuyển nợ thành vốn góp, giúp giảm đáng kể gánh nặng khoản nợ cho Biển Đông. Điều này cải thiện tức thì khả năng thanh toán và giải phóng dòng tiền để công ty tập trung vào phục hồi hoạt động kinh doanh cốt lõi. Nhờ DATC trở thành chủ nợ chính hoặc cổ đông, Biển Đông nhận được sự hỗ trợ về quản trị, điều hành, và có thể tiếp cận nguồn vốn mới ở giới hạn nhất định. Kết quả là, sau giai đoạn được tái cơ cấu, Công ty Vận tải Biển Đông đã từng bước ổn định, phục hồi hoạt động kinh doanh và đạt được tăng trưởng dương, thoát khỏi chuỗi năm thua lỗ trước đó. Thành công này không chỉ khẳng định vai trò của DATC mà còn cung cấp bài học quý giá về tầm quan trọng của mua bán nợ trong việc cứu vãn các doanh nghiệp vận tải biển gặp khó khăn.

VI. Giải pháp hoàn thiện Tái cơ cấu tài chính vận tải biển và triển vọng tương lai

Để nâng cao hiệu quả công tác tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ trong tương lai, cần có một hệ thống giải pháp toàn diện, từ cấp độ vĩ mô đến vi mô, đồng thời rút kinh nghiệm từ các mô hình thành công trên thế giới. Mặc dù DATC đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn những tồn tại và hạn chế cần được khắc phục để tối ưu hóa quá trình này.

Một trong những giải pháp cốt lõi là xây dựng hệ thống quy trình, quy chế quản trị nội bộ chặt chẽ và minh bạch hơn cho hoạt động mua bán nợ gắn với tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp đẩy nhanh tiến độ xử lý khoản nợ, giảm thiểu rủi ro tài chính và nâng cao tính chuyên nghiệp. Đồng thời, cần áp dụng các biện pháp mua bán xử lý nợ mới, linh hoạt hơn, phù hợp với từng đặc thù của doanh nghiệp vận tải biển và tình hình thị trường. Các biện pháp này có thể bao gồm các hình thức hợp tác đa dạng hơn với các tổ chức tín dụng, các nhà đầu tư tư nhân, và các quỹ đầu tư để cùng tham gia vào quá trình tái cơ cấu.

Bên cạnh đó, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại DATC là vô cùng cần thiết. Đội ngũ cán bộ cần được trang bị kiến thức chuyên sâu về ngành vận tải biển, kỹ năng phân tích tài chính phức tạp, và kinh nghiệm đàm phán mua bán nợ để đưa ra những quyết định chính sách phù hợp. Song song với đó là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thông tin và quy trình xử lý nợ. Việc số hóa và tự động hóa sẽ giúp thu thập, phân tích dữ liệu nhanh chóng, chính xác hơn, từ đó rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Ở cấp độ chính sách, cần có những kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước để hoàn thiện khung pháp lý về mua bán nợtái cơ cấu doanh nghiệp. Cụ thể, Chính phủ cần ban hành các bộ tiêu chuẩn thống nhất về định giá khoản nợ xấu, tạo môi trường hoạt động minh bạch và bình đẳng hơn. Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích các ngân hàng tái cấp vốn cho các doanh nghiệp vận tải biển sau khi được tái cơ cấu tài chính, xem đây là nguồn vốn mồi quan trọng để phục hồi hoạt động kinh doanh và tăng trưởng. Bài học từ kinh nghiệm quốc tế, như cách Trung Quốc thành lập các công ty quản lý tài sản (AMC) và áp dụng các biện pháp mạnh dạn như tạm thời chấp nhận khoản thu hồi thấp để tạo điều kiện phục hồi doanh nghiệp, hay mô hình kết hợp thanh lý và tái cơ cấu của Nigeria, đều có giá trị tham khảo lớn. Việc học hỏi và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Việt Nam sẽ giúp tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ đạt được những thành công bền vững trong tương lai, đóng góp vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế. (Hoàng Thị Duyên, 2022).

6.1. Hoàn thiện quy trình và chính sách để tăng cường hiệu quả tái cơ cấu tài chính vận tải biển

Để nâng cao hiệu quả tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ, DATC cần không ngừng hoàn thiện quy trình nội bộ. Điều này bao gồm việc chuẩn hóa các bước tiếp nhận, đánh giá, soát xét chi tiết và xây dựng phương án mua bán nợ, đảm bảo tính minh bạch và tốc độ. Các chính sách mua và xử lý khoản nợ cần linh hoạt hơn, cho phép áp dụng đa dạng các biện pháp như khoanh nợ, giãn nợ, giảm nợ, xóa nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp tùy theo tiềm năng phục hồi hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp vận tải biển. Đặc biệt, cần có chính sách rõ ràng về việc định giá khoản nợ và tài sản bảo đảm, giúp quá trình đàm phán diễn ra thuận lợi hơn. Việc thường xuyên rà soát, cập nhật các quy định và chính sách để phù hợp với biến động thị trường và đặc thù ngành vận tải biển là yếu tố then chốt, góp phần giảm thiểu rủi ro tài chính và tối đa hóa lợi ích từ tái cơ cấu tài chính.

6.2. Bài học kinh nghiệm quốc tế và triển vọng của Tái cơ cấu tài chính vận tải biển tại Việt Nam

Kinh nghiệm từ các quốc gia như Trung Quốc và Nigeria cung cấp những bài học quý giá cho Việt Nam trong công tác tái cơ cấu tài chính vận tải biển qua mua bán nợ. Trung Quốc đã thành lập các công ty quản lý tài sản (AMC) để mua lại nợ xấu và tư vấn cho các doanh nghiệp nhà nước về các biện pháp tái cơ cấu tài chính như phát hành cổ phiếu, sáp nhập, hoặc hỗ trợ vốn để phục hồi hoạt động kinh doanh. Nigeria với mô hình AMCON đã thành công trong việc làm sạch bảng cân đối kế toán của ngân hàng và tái cơ cấu vốn cho các ngân hàng được giải cứu. Bài học rút ra cho DATC là cần áp dụng linh hoạt phương thức xử lý khoản nợ, coi việc xử lý nợ là cốt lõi, và thực hiện tái cơ cấu tài chính đồng thời với tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh và quản trị điều hành. Vai trò dẫn dắt của Chính phủ trong việc ban hành khung pháp lý và chính sách hỗ trợ là không thể thiếu. Triển vọng cho tái cơ cấu tài chính vận tải biển tại Việt Nam là rất lớn nếu các giải pháp được triển khai đồng bộ, hiệu quả, giúp doanh nghiệp vận tải biển vượt qua khó khăn, đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

27/09/2025
Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp ngành vận tải biển thông qua hoạt động mua bán nợ tại công ty tnhh mua bán nợ việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN cứu VÀ cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁI cơ CẤU TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG MUA BÁN Nơ TAI CÔNG TY MUA BÁN NO 1. Tông quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu quắc tế Sau các cuộc khủng hoảng nợ ở khu vực Mỹ Latinh xảy ra vào thời kỳ đầu nhũng năm 1980; khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 - 1999; khủng hoàng nợ ở Mỹ những năm 2007 - 2008 và khủng hoảng nợ ở Hy Lạp, nhiều quốc gia đã bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu thị trường mua bán nợ xấu. Các công ty mua bán nợ quốc gia ra đời đã giúp cho ngân hàng xử lý các khoản nợ xấu tồn đọng nhiều năm và hỗ trợ tái cơ cấu lại tình hình tài chính, tình hình hoạt động của các doanh nghiệp.

Theo nghiên cứu của Claessens và cộng sự (1999) về "Financial Restructuring in East Asia: Halfway there?” (Tái cấu trúc tài chính ở Đông Á: Nửa đường?”), để tái cấu trúc doanh nghiệp sau khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Á 1997-1998 cũng như phát triển thị trường mua bán nợ thì nhiều quốc gia đã sừ dụng công ty mua bán nợ quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia. Nghiên cứu của Dziobek (1998) về "Market-Based Policy Instruments for Systemic Bank Restructuring" (“Các công cụ chính sách thị trường đối với tái cơ cấu hệ thống ngân hàng”) chỉ ra rằng mô hình thị trường mua bán nợ và giải pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tài chính phụ thuộc vào từng quốc gia và từng thời kỳ, khó có công thức chung cho tất cả các nước. Nghiên cứu của tác giả Ingves và cộng sự (2004) về “Issues in the Establishment of Asset Management Companies, International Moneytary Fund” (“Các vấn đề trong thiết lập Công ty quản lý tài sản, Quỹ tiền tệ quốc tế”) cho kết quả tương tự. Các tác giả còn chỉ ra rằng đề thực hiện thành công việc tái cơ cấu các doanh nghiệp 5 thông qua công ty mua bán nợ thì cân có môi trường pháp lý phù hợp, tính sáng tạo, độc lập trong hoạt động của các công ty mua bán nợ và hoạt động theo nguyên tắc thị trường.

- Bài báo “Coorporate sector Restructuring, The Role of Government in Times of Crisis” của Stone (2002), tác giả nêu rõ chính phủ phải đóng vai trò hàng đầu trong việc tái cơ cấu doanh nghiệp quy mô lớn trong giai đoạn khủng hoảng. Đe chính sách tái cơ cấu doanh nghiệp thành công thì phải thực hiện theo trình tự: đầu tiên Chính phủ phải xây dựng chính sách kinh tế vĩ mô và pháp lý như cải cách hệ thống pháp lý và thuế đề đặt nền tảng cho tái cơ cấu thành công, sau đó thiết lập các ưu đãi thích hợp cho các ngân hàng như bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ và tái cấp vốn để khơi thông dòng vốn tín dụng, cuối cùng là đến tái cơ cấu doanh nghiệp. - Nghiên cúu của Lubian (2014) “The Executive Guide to Corporate Restructuring” cho rằng một công ty cần tái cấu trúc khi gặp khó khăn về kinh tế và tài chính. Bất kỳ tái cấu trúc nào của một công ty đều liên quan đến tái cấu trúc tài chính.

Tái cấu trúc tài chính có thể không nhất thiết phải liên quan đến tái cấp vốn. Mục đích của bất kỳ tái cấu trúc nào là đưa ra những thay đổi nhằm tạo ra dòng tiền tự do để đáp ứng các khoản nợ phải trả và thoa mãn nhu cầu của cổ đông. - Nghiên cứu cùa Devic (2018) “The Financial Restructuring of a Company in Financial Distress” về tái cấu trúc tài chính của công ty trong quá trinh hoạt động kinh doanh. Tác giả đà phân tích hiệu quả hoạt động của tập đoàn Agrokor từ năm 2007 đến năm 2016, nhận diện các khó khăn về tài chính trong kinh doanh, sử dụng các kỹ thuật và mô hình dự báo phá sản và xây dựng các kịch bản tái cấu trúc công ty.

Từ đó, tác giả chỉ ra những ưu điểm, tác động của quá trình tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Các nghiên cứu trong nước Ớ Việt Nam, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ trong việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế Việt Nam đỏ là cổ phần hóa, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Hoạt động mua bán nợ đang được xem là một lối thoát của các doanh nghiệp nhà nước đang gặp phải nhiều khó khăn về tài chính trong sản xuất kinh doanh. Với những doanh nghiệp khó khăn, lâm vào tình trạng phá sản thi tái cơ cấu về tài chính là bước triển khai cần thiết đầu tiên để giúp doanh nghiệp phục hồi hoạt động trở lại.

Một số công trình tiêu biểu liên quan đến nội dung mua bán nợ để tái cơ cấu doanh nghiệp: Đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đăng Nam và nhỏm nghiên cứu (2014) về “Các giải pháp xử lý nợ phái trá trong quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” nghiên cứu sâu về khía cạnh tái cấu trúc các khoản nợ phải trả - một bộ phận của tái cấu trúc tài chính từ đó đưa ra nhũng đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý, cấu trúc các khoản nợ phải trả góp phần quan trọng trong quá trình tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam. Đồ tài nghiên cứu của tác giả Phạm Mạnh Thường (2014) "Hoàn thiện cơ chế tài chinh trong xử lỷ nợ xấu ngân hàng thúc đấy tái cấu trúc doanh nghiệp” cho thấy: thực trạng về thị trường mua bán nợ chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, quá trình xử lý nợ xấu còn nhiều bất cập. Các phân tích và đánh giá của tác giả đã mang lại một cái nhìn tồng quát về tình hình nợ xấu của các ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp đề thúc đẩy xử lý nợ xấu gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp. Nghiên cứu của tác giả Đặng Phương Mai (2016) “Giải pháp tải Cấu trúc tài chỉnh các doanh nghiệp trong ngành thép của Việt Nam ” đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cấu trúc tài chính và tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp; đánh giá thực trạng cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp ngành thép.

Các nghiên cứu đã chỉ ra nhũng nguyên nhân dẫn đến các tồn tại; xác định nhân tố tác động đến cấu trúc tài chính; tác động của cấu trúc tài chính đến hiệu quả 7 hoạt động và giá trị của các doanh nghiệp trong ngành thép, từ đó đê xuât giải pháp tái cấu trúc tài chính trong các doanh nghiệp ngành thép. Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thu Hà (2017) về “Quản lỷ hoạt động mua và xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua hán nợ Việt Nam” đã đánh giá thực trạng quản lý hoạt động mua, xử lý nợ xấu ờ góc độ quản lý kinh tế, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động mua và xử lý nợ xấu tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Thủy (2019) về “Nghiên cứu hoạt động xử lý nợ tại Công ty TNHH Mua hán nợ Việt Nam ” đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về xừ lý nợ xấu; đánh giá tình hình xử lý nợ xấu và đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu tại Công ty TNHH Mua bán nợ Việt Nam Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Như Quỳnh (2020) “Tái cấu trúc tài chính các doanh nghiệp vận tải hiển niêm yết ở Việt Nam ”đã phân tích thực trạng sử dụng cấu trúc tài chính trong các doanh nghiệp vận tải biển niêm yết ở Việt Nam, chỉ rồ những ưu và nhược điểm trong cấu trúc tài chính của các doanh nghiệp. Từ đó, đề xuất một số giải pháp tái cấu trúc tài chính hiệu quả nhằm nâng cao giá trị của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam phù hợp vói điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Khoảng trống nghiên cứu Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan đến thị trường mua bán nợ xấu và vấn đề tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp. Mỗi công trình nghiên cứu xem xét ở những góc độ nghiên cứu, gắn với vùng, lãnh thổ, quốc gia khác nhau. Từ tổng quan nghiên cứu, khoảng trống nghiên cứu cụ thể như sau: - Nghiên cứu tập trung trực tiếp về hoạt động mua bán nợ gắn với tái cơ cấu doanh nghiệp ngành vận tải biển. Đây cũng là một lĩnh vực mũi nhọn của ngành Hàng hải, chiếm vị trí quan trọng nhất trong việc vận chuyến hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta, chiếm trên 90% lượng hàng vận chuyển; tạo ra khối lượng công ăn việc làm lớn và mang về nhiều ngoại tệ cho đất nước.

8 - Nghiên cứu quy trình cụ thê triên khai việc tái cơ câu tài chính doanh nghiệp thông qua mua bán nợ. Trên cơ sở đó triển khai công tác tái cơ cấu doanh nghiệp một cách hiệu quả, tiến tới đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giảm thiểu những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện. Cơ sở lý luận về cơ cấu tài chính doanh nghiệp và tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp thông qua hoạt động mua bán nợ 1. Tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp 1.

Cơ cấu tài chỉnh của doanh nghiệp Có nhiều quan điếm khác nhau về cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Theo Ross và cộng sự (2008), cơ cấu tài chính (cấu trúc vốn) được hiểu là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sờ hữu mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các tài sản của doanh nghiệp. Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp đạt tối ưu khi giá trị doanh nghiệp được tối đa hóa đồng thời chi phí sử dụng vốn là tối thiểu. Theo Brigham và Houston (2010), ngoài nguồn vốn có tính chất dài hạn bao gồm nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường, các khoản vay của ngân hàng cũng là một yếu tố cấu thành cấu trúc tài chính của doanh nghiệp.

Ngoài nguồn vốn có tính chất dài hạn, doanh nghiệp còn sử dụng nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chẳng hạn như các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả về tiền lương, thuế. đề tài trợ cho toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Những nguồn này hình thành nghĩa vụ nợ đối với doanh nghiệp, thể hiện ở phần nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán. Hơn nữa, trong một số trường họp, khoản nợ ngắn hạn lại chiếm tỷ trọng lớn và duy trì một mức độ thường xuyên trong các doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ