Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tái cơ cấu DNNN và vai trò của báo chí Chương 2: Thực trạng thông tin tuyên truyền về tái cơ cấu DNNN trên báo chí ngành Tài chính Chương 3: Kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền về tái cơ cấu DNNN trong giai đoạn mới Nội dung của luận văn sẽ đƣợc trình bày theo thứ tự các chƣơng nói trên. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ 1.1 – Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến DNNN, tái cơ cấu DNNN 1.1 – Khái niệm và đặc điểm DNNN DNNN của Việt Nam đƣợc hình thành trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, trong công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, hệ thống DNNN vừa đƣợc phát triển, mở rộng, vừa đƣợc sắp xếp, cơ cấu lại và từng bƣớc chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trƣờng. DNNN có lịch sử tồn tại khá lâu và hiện đang giữ vai trò chủ đa ̣o trong điề u kiê ̣n kinh t ế thị trƣờng ở Việt Nam hiê ̣n nay. Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về DNNN cũng có những đặc thù và thay đổ i nhất định phù hợp với thực tiễn.
Trong thời gian đầu của quá trình đổi mới nền kinh tế ở Việt Nam, DNNN đƣợc quan niệm là những tổ chức kinh doanh do Nhà nƣớc đầu tƣ 100% vốn điều lệ (Điều 1 Nghị định 388/HĐBT về ban hành quy chế về thành lập và giải thể DNNN ngày 20 tháng 11 năm 1991). DNNN còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế hoạt động công ích của Nhà nƣớc (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995). DNNN theo cách hiểu này đã đƣợc tiếp cận điều chỉnh bởi pháp luật có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình doanh nghiệp khác về chủ sở hữu cũng nhƣ tổ chức và quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Từ những thay đổi về tƣ duy quản lý kinh tế và điều chỉnh pháp luật đối với các doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nƣớc 2005 đã có định nghĩa mới về DNNN.
Theo Luật này, DNNN đƣợc hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệm hữu hạn (Điều 1 Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2005). Cũng có thể hiểu “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” (Khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005). Một thay đổi mới nhất về khái niệm và đặc điểm về DNNN đƣợc qui định tại Nghị định 99/2012/NĐ-CP ngày 11/12/2012 về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nƣớc đối với DNNN do Thủ tƣớng Chính phủ ban hành đã làm rõ khái niệm DNNN. Theo đó, “DNNN là doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên”(Điều 2 và Điều 3, Nghị định 99/2012/NĐ- CP) - thay cho khái niệm: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phần góp vốn chi phối đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” nhƣ cách hiểu trƣớc đây.
Với khái niệm mới này, các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ thực hiện quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nƣớc đối với doanh nghiệp mà Nhà nƣớc nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nƣớc đầu tƣ vào doanh nghiệp. Ngoài việc “định danh” rõ khái niệm về DNNN, Nghị định 99/2012/NĐ-CP còn khẳng định, Chính phủ thống nhất quản lý và thực hiện chức năng chủ sở hữu đối với DNNN và vốn nhà nƣớc đầu tƣ vào doanh nghiệp (Điều 1, Nghị định 99/2012/NĐ-CP). Nhà nƣớc chỉ đầu tƣ vốn, tài sản vào doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực, khâu then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội và quốc phòng, an ninh, làm nòng cốt để kinh tế nhà nƣớc 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện đƣợc vai trò chủ đạo, là lực lƣợng vật chất quan trọng để Nhà nƣớc định hƣớng, điều tiết nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Nghị định 99/2012/NĐ-CP quy định cụ thể, quyền, trách nhiệm của Chính phủ.
Theo đó, thay vì chịu trách nhiệm chung chung nhƣ quy định theo Nghị định 132/2005/NĐ-CP và Nghị định 86/2006/NĐ-CP, Chính phủ chịu trách nhiệm quy định về thành lập, tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể DNNN; ban hành điều lệ, sửa đổi và bổ sung điều lệ của Tổng công ty Đầu tƣ và Kinh doanh vốn Nhà nƣớc (SCIC), Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), Tổng công ty Đƣờng sắt Việt Nam, Tổng công ty Lƣơng thực miền Bắc và Tổng công ty Lƣơng thực miền Nam. Đối với DNNN mà Nhà nƣớc giữ 100% vốn điều lệ khác, Chính phủ chỉ quy định điều lệ mẫu. Chính phủ cũng chịu trách nhiệm quy định chế độ quản lý tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ, chế độ báo cáo và công khai tài chính, cơ chế giám sát, kiểm tra DNNN; quy định chế độ tuyển dụng, tiền lƣơng, tiền thƣởng của DNNN; quy định chế độ tiền lƣơng, tiền thƣởng và các quyền lợi khác của chủ tịch và thành viên hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty, kiểm soát viên, tổng giám đốc (giám đốc) DNNN; quy định chế độ giám sát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, thực hiện chiến lƣợc, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đƣợc giao của DNNN… Nghị định 99/2012/NĐ-CP khẳng định: “Bộ quản lý ngành là cấp trên trực tiếp của hội đồng thành viên tại tập đoàn kinh tế nhà nƣớc”. Vì vậy, bộ quản lý ngành có trách nhiệm đề nghị Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập, mục tiêu, nhiệm vụ và ngành, nghề kinh doanh của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc trực thuộc; tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu, giải thể và yêu cầu phá sản tập đoàn kinh tế nhà nƣớc do mình quản lý… 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ quản lý ngành cũng đƣợc giao trách nhiệm đề nghị Thủ tƣớng Chính phủ quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, khen thƣởng, kỷ luật chủ tịch hội đồng thành viên; đề nghị Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt chiến lƣợc, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tƣ phát triển 5 năm của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc trực thuộc.
Ngoài ra, bộ quản lý ngành đƣợc giao nhiệm vụ phê duyệt chủ trƣơng góp vốn, nắm giữ, tăng, giảm vốn của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc; việc tiếp nhận doanh nghiệp tự nguyện tham gia làm công ty con, công ty liên kết; phê duyệt chủ trƣơng vay, cho vay, mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% vốn điều lệ của DNNN; phê duyệt chủ trƣơng vay nợ nƣớc ngoài của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc… Nghị định 99/2012/NĐ-CP giao nhiệm vụ cho bộ quản lý ngành thực hiện giám sát, kiểm tra thƣờng xuyên và thanh tra việc chấp hành pháp luật; việc quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn; việc thực hiện chiến lƣợc, kế hoạch; việc thực hiện chế độ tuyển dụng, tiền lƣơng, tiền thƣởng của tập đoàn kinh tế nhà nƣớc… Nhƣ vậy, khái niệm và đặc điểm DNNN đến nay đã đƣợc thống nhất và nêu cụ thể tại Nghị định 99/2012/NĐ-CP. Đây cũng là những qui định mới nhất đƣợc áp dụng hiện nay và cũng làm cơ sở cho Đề án tái cơ cấu DNNN đang triển khai thực hiện hiện nay.2 – Khái niệm về cơ cấu và tái cơ cấu - Theo cuốn sách Từ điển tiếng Việt (2007), do cố Giáo sƣ Hoàng Phê chủ biên đã có một số định nghĩa về từ “cơ cấu”: Ở dạng danh từ: (1) Cơ cấu là nguyên tắc kết hợp và hoạt động của các chi tiết máy trong cùng một chỉnh thể, theo những quy luật nhất định. (2) Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnh 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể: cơ cấu của nền kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đại biểu quốc hội, cải tổ cơ cấu tổ chức quản lý hành chính. [39,Tr 348] Ở dạng động từ: Cơ cấu là tổ chức, sắp xếp các thành phần, bộ phận trong một chỉnh thể nhằm thực hiện chức năng chung: cơ cấu lại danh mục đầu tƣ, tái cơ cấu ngân hàng.
[39, Tr 348] Qua khảo cứu và thu thập các khái niệm về cơ cấu, có thể hiểu “cơ cấu” nhƣ sau: Cơ cấu hay kết cấu là một phạm trù triết học phản ánh cấu trúc bên trong của một đối tƣợng nào đó, kể cả số lƣợng và chất lƣợng, là tập hợp những mối quan hệ cơ bản, tƣơng đối ổn định giữa các yếu tố cấu thành nên đối tƣợng đó trong một thời gian nhất định. Cơ cấu của một đối tƣợng đƣợc thể hiện bằng hai đặc trƣng chính, đó là các bộ phận cấu thành nên đối tƣợng và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành đó. - Tái cơ cấu: Tái cơ cấu là cụm từ thƣờng đƣợc sử dụng trên báo chí thời gian qua, song khái niệm về cụm từ này chƣa thấy đƣợc đề cập chính danh trong các cuốn từ điển tiếng Việt hiện nay. Qua khảo cứu, tác giả luận văn chọn lọc một số ý kiến, một số qui ƣớc sử dụng đƣợc coi là phổ biến và dễ hiểu hiện nay nhƣ sau: + Theo cuốn cẩm nang “Thuật ngữ kinh tế - thƣờng đƣợc sử dụng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn”, xuất bản lần thứ 2 có bổ sung (phát hành ngày 3/1/2013), thì: “Tái cơ cấu là sắp xếp, thay đổi cơ cấu về nguồn lực của một tổ chức, doanh nghiệp hay nền kinh tế để tạo nên một cơ cấu mới hợp lý, hiệu quả hơn.
Nguồn lực ở đây có thể là nhân lực, tài sản, vốn, nợ vay, tài nguyên”. + Còn theo học giả Michael Hammer và James A. Champy (học giả ngƣời Mỹ) đƣa ra lần đầu từ những năm đầu 1990 và phát triển trong cuốn sách Reengineering the Corporation (Tái cấu trúc Tổng công ty): tái cơ cấu 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.