Luận văn: Tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai tại Quốc Oai

Luận văn phân tích thực trạng, hạn chế và đề xuất giải pháp tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai tại huyện Quốc Oai, Hà Nội.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh tài chính đất đai Quốc Oai giai đoạn 2017 2019

Tài chính đất đai là một cấu phần quan trọng, phản ánh sức khỏe của nền kinh tế địa phương và hiệu quả công tác quản lý nhà nước. Tại huyện Quốc Oai, việc khai thác nguồn lực này đã góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn mới. Nghiên cứu của Nguyễn Viết Tâm (2020) cho thấy, nguồn thu ngân sách từ đất đã trở thành động lực chính cho nhiều dự án đầu tư công, từng bước thay đổi diện mạo của huyện. Tuy nhiên, tiềm năng to lớn của tài chính đất đai Quốc Oai vẫn chưa được khai thác triệt để. Giai đoạn 2017-2019 là một thời kỳ ghi nhận những nỗ lực và cả những tồn tại trong công tác này. Việc hệ thống hóa thực trạng giúp nhận diện rõ các điểm nghẽn và cơ hội, từ đó xây dựng các giải pháp mang tính chiến lược. Các hình thức huy động tài chính chủ yếu bao gồm thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất, và các loại thuế, phí liên quan. Mỗi hình thức đều có vai trò riêng và chịu tác động bởi nhiều yếu tố như chính sách vĩ mô, quy hoạch sử dụng đất Quốc Oai, và sự phát triển của thị trường bất động sản Quốc Oai. Phân tích sâu giai đoạn này là cơ sở thực tiễn vững chắc để đề xuất các giải pháp đột phá, nhằm tối ưu hóa nguồn lực quý giá này, phục vụ cho mục tiêu phát triển bền vững của huyện trong tương lai.

1.1. Vai trò của nguồn lực tài chính từ đất đai tại địa phương

Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là một nguồn lực tài chính khổng lồ. Tại Quốc Oai, nguồn lực này đóng vai trò then chốt trong việc cân đối ngân sách địa phương (NSĐP). Theo luận văn nghiên cứu, các khoản thu từ đất chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, đặc biệt là nguồn thu từ thu tiền sử dụng đất Quốc Oai và đấu giá. Nguồn vốn này được tái đầu tư trực tiếp vào các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội như đường giao thông, trường học, trạm y tế, góp phần hoàn thiện các tiêu chí nông thôn mới. Việc khai thác hiệu quả nguồn thu ngân sách từ đất không chỉ giải quyết bài toán vốn đầu tư mà còn tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút doanh nghiệp, và tạo việc làm cho người lao động. Hơn nữa, một chính sách tài chính đất đai hợp lý còn là công cụ điều tiết thị trường, khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, và bền vững.

1.2. Các hình thức khai thác nguồn thu từ đất đai phổ biến

Trên địa bàn huyện Quốc Oai, việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai được thực hiện qua nhiều hình thức đa dạng. Hình thức phổ biến và mang lại nguồn thu lớn nhất là đấu giá quyền sử dụng đất Quốc Oai. Đây là phương thức minh bạch, cạnh tranh, giúp tối đa hóa giá trị đất đai cho ngân sách. Bên cạnh đó, việc thu tiền sử dụng đất khi giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất cũng là một nguồn thu quan trọng. Các khoản thu định kỳ bao gồm thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp, góp phần ổn định nguồn thu. Ngoài ra, thuế chuyển nhượng bất động sản Quốc Oai (thuế thu nhập cá nhân) và lệ phí trước bạ khi có các giao dịch mua bán, chuyển nhượng cũng đóng góp một phần không nhỏ. Mỗi hình thức có cơ chế và quy trình thực hiện riêng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên môn như Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, và Thuế để đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời.

II. Các bất cập trong quản lý tài chính đất đai huyện Quốc Oai

Mặc dù đạt được những kết quả nhất định, công tác quản lý tài chính đất đai huyện Quốc Oai vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và thách thức. Những bất cập trong quản lý đất đai này không chỉ làm thất thoát nguồn thu ngân sách mà còn gây ra những vướng mắc cho người dân và doanh nghiệp, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư. Theo tài liệu nghiên cứu, các hạn chế xuất hiện ở nhiều khâu, từ lập quy hoạch, xác định giá đất, tổ chức đấu giá, đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. Việc xác định giá đất chưa thực sự theo sát giá thị trường là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến nhiều hệ lụy. Công tác đấu giá quyền sử dụng đất dù được xem là hình thức ưu việt nhưng quá trình triển khai còn nhiều điểm chưa hiệu quả. Thêm vào đó, thủ tục hành chính liên quan đến nghĩa vụ tài chính còn phức tạp, gây khó khăn cho người sử dụng đất. Nhận diện và phân tích sâu sắc các bất cập này là bước đi tiên quyết để tìm ra giải pháp khắc phục, hướng tới một hệ thống tài chính đất đai Quốc Oai minh bạch và hiệu quả hơn.

2.1. Hạn chế trong đấu giá quyền sử dụng đất và tạo quỹ đất

Công tác đấu giá quyền sử dụng đất Quốc Oai được ghi nhận còn nhiều hạn chế. Tài liệu gốc chỉ ra rằng, tại một số phiên đấu giá, số lượng người tham gia còn ít, dẫn đến giá trúng thầu không cao hơn nhiều so với giá khởi điểm. Nguyên nhân chính là do công tác chuẩn bị chưa tốt, đặc biệt là khâu giải phóng mặt bằng và đầu tư hạ tầng kỹ thuật cho khu đất đấu giá chưa hoàn thiện. Điều này làm giảm sức hấp dẫn của các lô đất. Hơn nữa, việc tạo lập quỹ đất sạch để phục vụ đấu giá còn chậm và gặp nhiều khó khăn. Thông tin về quy hoạch và tiềm năng phát triển của khu vực đấu giá chưa được công khai, minh bạch hóa thông tin đất đai một cách rộng rãi, khiến các nhà đầu tư thiếu cơ sở để đưa ra quyết định, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thu ngân sách.

2.2. Vướng mắc về đền bù giải phóng mặt bằng và giá đất

Công tác đền bù giải phóng mặt bằng Quốc Oai là một trong những khâu phức tạp và dễ phát sinh khiếu kiện nhất. Vướng mắc lớn nhất bắt nguồn từ sự chênh lệch giữa giá đất huyện Quốc Oai do Nhà nước quy định và giá giao dịch thực tế trên thị trường. Bảng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành thường thấp hơn nhiều, gây khó khăn trong việc thỏa thuận bồi thường với người dân có đất bị thu hồi. Điều này không chỉ làm chậm tiến độ các dự án mà còn tiềm ẩn nguy cơ khiếu nại, tố cáo kéo dài. Quy trình xác định giá đất cụ thể để tính bồi thường còn phức tạp và mất nhiều thời gian. Việc không đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân có đất bị thu hồi là một trong những bất cập trong quản lý đất đai cần sớm được tháo gỡ.

2.3. Khó khăn trong thu tiền sử dụng đất và các loại thuế

Việc thu tiền sử dụng đất Quốc Oai và các khoản thuế, phí liên quan vẫn gặp nhiều trở ngại. Nghiên cứu của Nguyễn Viết Tâm (2020) chỉ ra những khó khăn trong công tác này, bao gồm cả từ phía cơ quan quản lý và người sử dụng đất. Quy trình thực hiện nghĩa vụ tài chính còn qua nhiều bước, tốn thời gian. Một bộ phận người dân chưa nắm rõ các quy định pháp luật, dẫn đến việc chậm trễ hoặc kê khai không chính xác. Đối với thuế chuyển nhượng bất động sản Quốc Oai, tình trạng khai giá trên hợp đồng thấp hơn giá thực tế vẫn còn tồn tại nhằm tránh thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước. Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm chưa được thực hiện thường xuyên và quyết liệt, làm giảm tính răn đe và hiệu lực của chính sách.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách tài chính đất đai Quốc Oai

Để khắc phục các tồn tại, việc hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính đất đai Quốc Oai là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp cần mang tính đồng bộ, tác động vào cả ba khâu: lập chính sách, tổ chức thực thi và giám sát. Trọng tâm của việc hoàn thiện chính sách là phải đảm bảo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, công khai, minh bạch và hài hòa lợi ích các bên. Một hệ thống chính sách tốt sẽ là nền tảng để khai thác bền vững nguồn lực đất đai, biến tiềm năng thành nguồn vốn thực tế cho phát triển. Các giải pháp không chỉ dừng lại ở việc sửa đổi các quy định hiện hành mà còn phải hướng tới việc xây dựng một cơ chế vận hành hiệu quả, phù hợp với đặc thù của huyện và xu thế phát triển chung, đặc biệt là trong bối cảnh Luật Đất đai 2024 và Quốc Oai sắp có hiệu lực.

3.1. Nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất Quốc Oai

Quy hoạch phải đi trước một bước. Nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất Quốc Oai là giải pháp gốc rễ. Quy hoạch cần có tầm nhìn dài hạn, tích hợp đa ngành, và dựa trên cơ sở phân tích khoa học về tiềm năng, lợi thế của địa phương. Cần công khai, minh bạch quá trình lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch, đồng thời lấy ý kiến rộng rãi của cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Một bản quy hoạch chất lượng, khả thi sẽ là căn cứ vững chắc cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, từ đó định hình giá trị đất đai và tối ưu hóa nguồn thu ngân sách từ đất. Việc quản lý chặt chẽ và thực hiện nghiêm túc theo quy hoạch đã được duyệt sẽ ngăn chặn tình trạng sử dụng đất sai mục đích, phá vỡ không gian phát triển chung.

3.2. Cải cách thủ tục và minh bạch hóa thông tin đất đai

Sự thiếu minh bạch là nguồn gốc của nhiều tiêu cực và thất thoát. Do đó, minh bạch hóa thông tin đất đai là giải pháp đột phá. Cần xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai tập trung, hiện đại, dễ dàng truy cập. Mọi thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giá đất, các khu vực chuẩn bị đấu giá, thủ tục hành chính phải được công khai trên các cổng thông tin điện tử của huyện. Song song đó, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa các quy trình liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý đất đai sẽ giúp thực hiện mục tiêu này một cách hiệu quả.

3.3. Xây dựng bảng giá đất phù hợp thị trường bất động sản

Giá đất là yếu tố cốt lõi của chính sách tài chính đất đai. Cần đổi mới phương pháp định giá, đảm bảo bảng giá đất huyện Quốc Oai phản ánh sát hơn giá trị thực tế của thị trường bất động sản Quốc Oai. Điều này đòi hỏi phải có cơ chế thu thập thông tin giá giao dịch thực tế một cách thường xuyên, chính xác. Việc thành lập các tổ chức tư vấn giá đất độc lập, chuyên nghiệp sẽ nâng cao tính khách quan. Một bảng giá đất hợp lý không chỉ giúp tăng nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà còn là cơ sở để giải quyết thỏa đáng vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng Quốc Oai, giảm thiểu khiếu kiện và đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư.

IV. Bí quyết tối ưu hóa nguồn thu ngân sách từ đất tại Quốc Oai

Bên cạnh việc hoàn thiện chính sách, cần có những giải pháp cụ thể, mang tính thực thi cao để tối ưu hóa nguồn thu ngân sách từ đất. Các giải pháp này tập trung vào việc nâng cao hiệu quả của các hình thức khai thác tài chính hiện có và tăng cường công tác quản lý, chống thất thu. Việc khai thác tài chính đất đai Quốc Oai không chỉ là mục tiêu tăng thu đơn thuần mà phải gắn liền với việc thúc đẩy thị trường phát triển lành mạnh, sử dụng đất đai hiệu quả và bền vững. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ thực thi công vụ. Áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại và công nghệ tiên tiến là chìa khóa để tạo ra sự đột phá trong giai đoạn tới.

4.1. Đẩy mạnh đấu giá quyền sử dụng đất một cách chuyên nghiệp

Để đấu giá quyền sử dụng đất Quốc Oai thực sự hiệu quả, cần chuyên nghiệp hóa mọi khâu. Trước hết, huyện cần chủ động tạo quỹ đất sạch bằng cách đẩy nhanh công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật trước khi đưa ra đấu giá. Cần đa dạng hóa các hình thức thông tin, quảng bá về các phiên đấu giá để thu hút nhiều nhà đầu tư tham gia. Quy trình tổ chức đấu giá phải được thực hiện công khai, minh bạch, áp dụng các hình thức đấu giá tiên tiến như đấu giá trực tuyến để hạn chế tiêu cực và tạo sự cạnh tranh thực sự. Việc lựa chọn các tổ chức đấu giá chuyên nghiệp, có uy tín cũng là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công và tối ưu hóa nguồn thu.

4.2. Tăng cường quản lý thuế chuyển nhượng bất động sản

Chống thất thu trong các giao dịch bất động sản là một nhiệm vụ trọng tâm. Cần tăng cường cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế, văn phòng đăng ký đất đai và các tổ chức hành nghề công chứng. Xây dựng cơ sở dữ liệu về giá giao dịch thực tế để làm căn cứ tham chiếu, kiểm tra khi người dân kê khai thuế chuyển nhượng bất động sản Quốc Oai. Áp dụng các biện pháp thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với các hồ sơ có dấu hiệu nghi vấn khai giá thấp. Đồng thời, cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rõ nghĩa vụ và các chế tài xử phạt, từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế trong hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

4.3. Ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý tài chính đất đai

Chuyển đổi số trong quản lý đất đai là xu thế tất yếu và là giải pháp chiến lược. Việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai và hồ sơ địa chính điện tử sẽ giúp công tác quản lý tài chính đất đai huyện Quốc Oai trở nên chính xác, nhanh chóng và minh bạch hơn. Người dân và doanh nghiệp có thể thực hiện các thủ tục nộp thuế, phí, lệ phí trực tuyến, giảm thiểu thời gian đi lại và tiếp xúc trực tiếp. Dữ liệu số hóa cũng là đầu vào quan trọng cho công tác phân tích, dự báo nguồn thu, xây dựng bảng giá đất và hoạch định chính sách tài chính đất đai Quốc Oai một cách khoa học, hiệu quả, bắt kịp yêu cầu quản lý hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Tăng cường khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai trên địa bàn huyện quốc oai thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH TỪ ĐẤT ĐAI 1. Cơ sở lý luận về khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai 1. Khái niệm, đặc điểm nguồn lực tài chính từ đất đai 1. Khái niệm nguồn lực tài chính từ đất đai Theo cách hiểu thông thường thì nguồn lực tài chính từ đất đai là nguồn lực tài chính huy động được từ các giao dịch đất đai giữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường và chịu sự chi phối của chế độ sở hữu đất đai (Trần Quang Huy, Nguyễn Thị Dung, 2016).

Trong nền kinh tế thị trường, nguồn lực tài chính được hiểu là nguồn thu bằng tiền của một chủ thể kinh tế nào đó. Các nguồn thu bằng tiền thưởng phát sinh do có các giao dịch như bán hàng hóa, cho thuê tài sản, thu lợi từ đầu tư, thu nợ… Ở Việt Nam, do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai quy định, đất đai không phải là hàng hóa, không được trao đổi mua bán, chỉ có QSDĐ là hàng hóa và được giao dịch trên thị trường bất động sản theo những nguyên tắc nhất định như giới hạn quy mô SDĐ theo mục đích, hạn điền, quy hoạch SDĐ của Nhà nước; Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao và thu hồi đất theo giá nhà nước. Theo Luật Đất đai, cơ chế thực hiện quyền sở hữu toàn dân đã chia quyền chủ sở hữu đất cho hai chủ thể khác nhau cùng nắm giữ là cơ quan thay mặt nhà nước quản lý đất đai và người SDĐ. Vì thế, luôn có hai loại chủ thể hưởng thụ nguồn tài chính phát sinh từ đất (Nguyễn Khắc Sơn, 2007).

Người SDĐ, trong thời hạn SDĐ được cơ quan nhà nước giao, làm chủ nguồn lực tài chính khi chuyển nhượng, cho thuê QSDĐ. Trong trường hợp cơ quan nhà nước thu hồi QSDĐ của người SDĐ trước thời hạn, người SDĐ được nhà nước đền bù theo giá nhà nước và được hỗ trợ tái định cư. Cơ quan 5 nhà nước quản lý đất đai có quyền thu thuế SDĐ, thuế chuyển nhượng QSDĐ, thu tiền giao đất và tiền thuê đất, thu lệ phí từ dịch vụ quản lý đất đai. Nguồn tài chính huy động từ đất này được đưa vào NSNN.

Ở Việt Nam, chính sách huy động nguồn tài chính từ đất đai vào NSNN được gọi là chính sách tài chính đất đai. Trong khuôn khổ luận văn này, chỉ đề cập đến nguồn lực tài chính do chính sách tài chính đất đai của Nhà nước huy động vào NSNN, không đề cập đến nguồn lực tài chính từ đất đai do người SDĐ khai thác. Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai là việc các cơ quan nhà nước đề ra và thực thi các chính sách nhằm huy động nguồn lực tài chính hình thành từ các giao dịch và sử dụng đất đai vào NSNN để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (Nguyễn Khắc Sơn, 2007). Từ khái niệm trên có thể thấy nội hàm khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai bao gồm: Thứ nhất, huy động nguồn lực tài chính từ đất đai là hoạt động tích tụ, tập trung nguồn lực tài chính có nguồn gốc từ đất đai vào NSNN thông qua các hình thức thu tiền SDĐ, cho thuê đất, thu từ vốn liên doanh bằng đất, thu phí địa chính.

Thứ hai, huy động nguồn lực tài chính phải thông qua các quan hệ kinh tế như mua, bán, trao đổi QSDĐ,. trên thị trường bất động sản theo cơ chế thị trường và chính sách của Nhà nước. Thứ ba, huy động nguồn lực tài chính từ đất đai phải nhằm mục tiêu chung là phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quốc gia. Đặc điểm của nguồn lực tài chính từ đất đai Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai luôn gắn với quan hệ sở hữu 6 toàn dân về đất đai.

Muốn đất đai đem lại lợi ích dưới hình thái tiền tệ thì Nhà nước phải nắm được quyền chi phối về đất đai. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam đã trao cho Nhà nước một số quyền của chủ sở hữu đất như: Thay mặt toàn dân giao đất lần đầu có thu tiền SDĐ cho người sử dụng; cho thuê đất công; thu hồi đất theo mục đích SDĐ có giá cả thấp, chuyển mục đích SDĐ sang phân khúc thị trường có giá cả cao và hưởng chênh lệch giá. Cơ sở để thu phần chênh lệch giá này vào NSNN là do chế độ sở hữu toàn dân quy định: địa tô chênh lệch phải thuộc về toàn dân, phục vụ lợi ích chung dưới hình thái NSNN. Ngoài ra, với tư cách cơ quan công quyền, Nhà nước ta có quyền đánh thuế SDĐ và thuế thu nhập cá nhân từ thu nhập phát sinh do người SDĐ đất bán QSDĐ, thu phí từ dịch vụ công về đất đai,…(Nguyễn Khắc Sơn, 2007).

- Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phải phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. Đất hoặc quyền của chủ sở hữu đất chỉ có thể chuyển thành tiền trên thị trường bất động sản theo nguyên tắc thị trường. Mặc dù Nhà nước Việt Nam giữ độc quyền xác định giá trong giao dịch với các chủ thể dân sự khác, nhưng phương pháp xác định giá QSDĐ, giá thuê đất phải phù hợp với cơ chế hình thành giá QSDĐ trên thị trường. Ngoài ra, các loại thuế thu từ SDĐ và chuyển nhượng QSDĐ cũng phải tuân thủ nguyên tắc thị trường.

Bất kỳ chính sách tài chính nào không phù hợp với cơ chế thị trường sẽ làm biến dạng thị trường, giảm mức độ hiệu quả trong điều tiết của thị trường, thậm chí các chính sách không phù hợp với cơ chế thị trường sẽ bị thị trường vô hiệu hóa. - Khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phụ thuộc trực tiếp vào hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Ở Việt Nam, chính sách và luật pháp chế định đất đai khá phức tạp, từ 7 những quy định về SDĐ theo quy hoạch đến xác định giá đất nhà nước theo mục đích sử dụng trong thu hồi đất, giao đất… Chính sách và pháp luật về đất đai càng phức tạp, việc khai thác nguồn lực từ đất đai càng đòi hỏi phải theo các quy trình và thủ tục phức tạp tương xứng. Hơn nữa, do đất đai là tài nguyên khan hiếm đặc biệt, bị giới hạn về diện tích và vị trí trên vỏ trái đất, không thay thế được cho nhau, nên việc khai thác nguồn lực từ đất đai còn phụ thuộc vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi trong quy hoạch, kế hoạch SDĐ, ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu NSNN từ đất. Sự điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng từng loại đất sẽ làm thay đổi quy mô và tiến độ huy động nguồn lực tài chính từ đất đai vào NSNN. Chính sách giá đất của nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô nguồn lực tài chính huy động vào NSNN từ đất đai (Trần Quang Huy, Nguyễn Thị Dung, 2016). Mục tiêu khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai - Huy động nguồn lực tài chính góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Đất đai được xác định là nguồn lực tài chính quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, bảo đảm an sinh xã hội. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch; đảm bảo lợi ích trước mắt cũng như lâu dài; tiết kiệm, hiệu quả; xử lý hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và các đối tượng có liên quan. Chính sách khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai, tài sản nhà nước, tài sản kết cấu hạ tầng phải thực hiện theo nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, đảm bảo công khai, minh bạch và phát triển bền vững. Nguồn lực tài chính từ đất đai phản ánh kết quả của việc thực hiện lợi ích kinh tế của Nhà nước, bởi vì Nhà nước là chủ thể duy nhất có khả năng làm đại diện cho toàn dân nắm quyền sở hữu về đất đai.

Với vị trí đó, Nhà nước nhất thiết phải thực hiện được lợi ích kinh tế từ quyền sở hữu 8 đó. Việc động viên các nguồn tài chính từ đất thông qua quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu với các chủ thể khác trong xã hội, thực chất là Nhà nước thực hiện lợi ích của xã hội. Quyền sở hữu về đất đai chỉ thực sự có ý nghĩa khi quyền đó đem lại lợi ích kinh tế thực sự cho chủ sở hữu. Lợi ích kinh tế được biểu hiện thành những nguồn tiền mà Nhà nước huy động được trên đất thông qua việc giao đất cho các chủ thể trong nền kinh tế.

Về mặt nguyên lý, chế độ sở hữu đất đai của nước ta là không thừa nhận đất đai thuộc sở hữu tư nhân cho nên lợi ích từ nguồn lực tài chính từ đất đai mà chủ thể sở hữu khai thác phải được phục vụ cho lợi ích của nhân dân, điều này phù hợp với bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Khắc Sơn, 2007). - Góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực đất đai. Việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai sẽ được thể hiện khi các chủ thể sử dụng đất thực thi trách nhiệm, nghĩa vụ tài chính đối với chủ sở hữu. Khi đó, việc khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai của chủ sở hữu sẽ có tác dụng đòn bẩy lợi ích kinh tế thúc đẩy, kích thích các chủ thể sử dụng đất hiệu quả hơn.

Dù muốn hay không muốn, các chủ thể phải sử dụng một cách tiết kiệm, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tiến tới sử dụng đất bền vững để một mặt thực hiện được lợi ích của mình từ việc sử dụng đó, mặt khác phải có một nguồn lực đủ để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với chủ thể sở hữu là Nhà nước. Việc sử dụng đất bền vững trở thành chiến lược quan trọng và cũng là mục tiêu trong khai thác nguồn lực tài chính từ đất đai. Việc xác định các khoản thu từ đất một mặt đóng góp NSNN, mặt khác, cũng là cơ sở để Nhà nước kiểm soát quá trình SDĐ, trong khi quỹ đất có hạn, nhu cầu SDĐ tăng cao, chất lượng đất đang bị thoái hóa, ô nhiễm gây tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ