Chương 1: Lý luận chung về tái cau trúc vốn doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính tại công ty TNHH Phương Hạnh Chương 3: Giải pháp tái cấu trúc tài chính cho công ty TNHH Phương Hạnh 28 KK CHUONG 1: LY LUAN CHUNG VE TAI CAU TRUC VON DOANH NGHIEP 1.1 Tông quan về câu trúc von 1.1 Các khái niệm về câu trúc vôn của doanh nghiệp - Câu trúc vôn: Câu trúc vôn là tỷ lệ vôn vay và vôn chủ sở hữu trong tông nguôn vôn của doanh nghiệp, nhăm mô tả nguôn gôc và phương pháp hình thành nên nguôn vôn của doanh nghiệp có thé sử dụng mua sắm tài sản và hoạt động kinh doanh. Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài chính thông qua các phương án kết hợp giữa bán cô phần, quyền chọn mua cổ phan, phát hành trái phiếu và đi vay. Cấu trúc vốn tối ưu là phương án, theo đó, doanh nghiệp có chi phí vôn nhỏ nhât và có giá cô phiêu cao nhât. Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối da lợi ích thu được từ các cá nhân và tô chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.
Đề tài trợ cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thê huy động nhiều nguồn vốn khác nhau. Quyết định huy động nguồn tài trợ nào với tỷ trọng ra sao tùy thuộc vào yếu tố chủ quan và khách quan của doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển, các doanh nghiệp thường tiếp cận nguồn vốn thông quan việc vay vốn ngắn hạn từ ngân hàng. Thực tế này dẫn đến việc tỷ trọng nợ dài hạn chiếm rất nhỏ trong nguồn vốn của đa số doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam.
Dé có đánh giá toàn diện về cấu trúc vốn của doanh nghiệp, thường xét đến tỷ trọng các nguồn vốn thông qua các ty sô: hệ sô nợ, hệ sô von chủ sở hữu, tỷ lệ nợ phải trả trên von chủ sỡ hữu. ` Nợ phải trả Hệ song = ~y—————— Tong nguồn uốn ¬ Nw pn ee Von chủ sở hữu Hệ số uốn chủ sở hữu = ———————————— Tong nguồn von lệ há i t r ả trên uốn chủ s ở hũ Nợ Te ệ nợ phái trả trên uốn chủ sở hữu= ——————phả i trả yeenoe Vốn chủ sở hữu - Cau trúc vốn tối ưu: Trong quá trình hoạt động, đặc biệt với những phương án kinh doanh có quy mô đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn, các doanh nghiệp phải cân nhắc việc sử dụng hợp lý các nguồn vốn có thé tiếp cận dé đạt hiệu quả tối ưu nhất. Doanh nghiệp sẽ phải tính toán nên sử dụng vốn vay từ nào: ngân hàng, phát hành trái phiếu, cổ phiếu hay sử dung lợi nhuận giữ lại. Cau trúc vốn tối ưu đề cập đến tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay nợ sao cho tối thiêu chi phí vốn, tôi thiểu hóa rủi ro kinh doanh đồng thời tối đa hóa giá tri doanh nghiệp.
Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp. Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp, đồng thời giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý (đặc biệt với số lượng hạn chế cơ hội kinh doanh và đầu tư). Gánh nặng nợ, mặt khác, tạo áp lực với doanh nghiệp. Chi phí vay nợ có tác động đáng kể tới vận hành kinh doanh, thậm chí, dẫn tới đóng cửa doanh nghiệp.
Tài trợ từ vốn góp cô phần không tạo ra chi phí sử dung vốn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cổ đông có thể can thiệp vào hoạt động điều hành doanh nghiệp. Kỳ vọng cao vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư cũng tạo sức ép đáng ké cho đội ngũ quản lý. - _ Rủi ro tài chính và đòn bay tài chính: “ Rui ro tai chinh: Rui ro tài chính là ru ro khi công ty thực hiện vay no.
Với việc sử dung các khoản nợ, chủ sở hữu sẽ gánh chịu loại rủi ro tài chính này, khi mà các bên cho vay nợ của công ty được quyền ưu tiên chi trả trước các cô đông trong trường hợp công ty phá sản. Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản càng cao, đồng nghĩa với rủi ro về tài chính càng tăng lên. * Don bay tài chính: «$ Don bay tài chính chỉ ra mức độ vốn vay trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Don bây tài chính mang lại cả những thuận lợi và khó khăn cho doanh nghiệp.
Một tỷ lệ nợ không phù hợp sẽ gây nên một đòn bẩy tài chính không hiệu quả, ảnh hưởng đến tổng tài sản và giá trị công ty. Bởi vậy, xác định cấu trúc vốn tối ưu yêu cầu cân bằng cả những mặt thuận lợi và khó khăn nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. - Lá chắn thuế: Lá chắn thuế là khoản giảm thu nhập chịu thuế của một cá nhân hay doanh nghiệp đạt được thông qua công khai những khoản khấu trừ được phép như lãi thế chấp, chỉ phí y tế, đóng góp từ thiện và khấu hao. Những khoản khấu trừ sẽ làm giảm thu nhập chịu thuê của người nộp thuê.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của doanh nghiệp - Don bay tài chính: Được đo lường băng giá trị số sách của tổng nợ trên tong tài sản, nợ vay ngắn hạn trên tông tài sản, nợ dài hạn trên tong tài sản.
- _ Hiệu quả hoạt động kinh doanh: Hiệu quả hoạt động kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời của tài sản, khả năng sinh lời của doanh thu hay khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Theo lý thuyết trật tự phân hạng, giữa nhà quản trị doanh nghiệp và nhà đầu tư luôn có sự bat cân xứng thông tin, dẫn đến chi phí huy động vốn từ bên ngoài sẽ cao hơn. Vì thế, nhà quản trị có xu hướng ưu tiên sử dụng nguồn vốn sẵn có nội tại, rồi đến các khoản vay nợ và cuối cùng là huy động vốn người ngoài. Điều này lý giải cho việc tại sao doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động tốt thường vay nợ ít hơn, vì công ty có lợi nhuận sau thuế giữ lại cao, đủ dé trang trải một phần hoặc toàn bộ cho dự án kinh doanh của công ty.
Ngoài ra, nghiên cứu của Kester (1986) đã chỉ ra rằng hệ số nợ có mối quan hệ nghịch biến với hiệu quả hoạt động hay công ty có tỷ lệ thu nhập ở mức cao có thé duy trì tỷ lệ nợ thấp bởi có khả năng tự tài trợ băng nguồn vốn bên trong. Mặt khác, lý thuyết tĩnh lại chỉ ra mối quan hệ đồng biến giữa mức độ sử dụng nợ với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bởi các công ty có hiệu quả cao thường gánh chịu nghĩa vụ về thuế lớn hơn do đó việc sử dụng nợ giúp đem lại lợi ích về thuế. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng mối quan hệ giữa mức độ sử dụng nợ và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không diễn ra một cách đồng điệu. Diamond (1991) đã chỉ ra rằng chính sách tài trợ của các doanh nghiệp có khả năng sinh lời ở mức thấp thường phụ thuộc vào nguồn vay ngắn hạn trong khi các doanh nghiệp có khả năng sinh lời ở mức cao lại phụ thuộc chủ yêu vào các khoản nợ dài hạn.
- Muc độ tăng trưởng : Mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp thường được đo lường qua tốc độ tăng tài sản hay doanh thu. Khi DN trong giai đoạn tăng trưởng, niềm tin của các nhà đầu tư vào DN sẽ cao, vì vậy khả năng tiếp cận các nguồn vốn từ bên ngoài càng lớn để tài trợ cho tài sản doanh nghiệp. Theo lý thuyết bất cân xứng công ty có tỉ lệ tăng trưởng cao thường phải đối mặt với bất cân xứng về thông tin cao hơn do vậy thường có tỉ lệ nợ nần cao( Gul, 1999) [71]. Tuy nhiên nghiên cứu của Titman & Wessels (1988) [119], lại cho rằng công ty có mức độ tăng trưởng cao thường có hệ số nợ mức thấp.
- Tai sản cô định hữu hình: Được đo lường bằng tổng tài sản cố định hữu hình trên tổng tài sản. Theo các lý thuyết, tài sản cố định hữu hình có mối quan hệ tỷ lệ thuận với đòn bay tài chính, bởi vì các chủ nợ thường đòi hỏi phải có thé chấp dé dam bảo cho các khoản vay. Ngoài ra, giá trị thanh lý của công ty cũng tăng lên khi có tài sản có định hữu hình và làm giảm thiệt hại khi công ty phá sản. - Lợi ích của lá chắn thuế từ khấu khao : Công ty có thé sử dụng khấu hao như một tam lá chắn thuế dé giảm bớt thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
Theo nghiên cứu của De Angelo và Masulis (1980) các khoản giảm trừ thuế không liên quan đến vay nợ có thé được dùng dé thay thế lợi ích từ vay nợ. Vì thế, một công ty có tỉ lệ lợi thuế từ khâu hao lớn kỳ vọng sẽ giảm được mức độ sử dụng nợ trong cấu trúc tài chính. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra mối quan hệ có tính hai chiều giữa lợi ích của lá chăn thuế từ khấu hao đến cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Chăng hạn, trong nghiên cứu của Bradley và cộng sự (1984), chỉ ra lợi ích từ lá chắn thuế từ khấu hao có quan hệ thuận chiều với hệ số nợ.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Chaplinsky Niehaus, Wald(1999) chỉ ra mối quan hệ ngược lại. - Quy mô của công ty: Được đo lường bang giá trị logarit của tổng tài sản. Theo lý thuyết đánh đổi, quy mô của công ty có quan hệ cùng chiều với nợ vay, bởi các công ty lớn thường có rủi ro phá sản thấp và có chi phí phá sản thấp. Ngoài ra, các công ty lớn có chi phí vấn dé người đại diện của nợ vay thấp, chi phí kiểm soát thấp, ít chênh lệch thông tin hơn so với các công ty nhỏ hơn, dòng tiền ít biến động, dễ dàng tiếp cận thị trường tín dụng và sử dụng nhiều nợ vay hơn.
Các nghiên cứu cua Wiwwattnakantang (1999), Chen (2004) ở các nước đang phát triển; nghiên cứu của Titman và Wessels (1988) và Rajan (1995) ở các nước phát triển cho thấy quy mô doanh nghiệp tỷ lệ thuận với đòn bây tài chính.