Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tái cấu trúc NHTM theo các chuẩn mực Basel II Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tái cấu trúc NHTM theo các chuẩn mực Basel II Chương 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích tái cấu trúc Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam theo các chuẩn mực Basel II – Nghiên cứu điển hình tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công thƣơng Việt Nam Chương 5: Kết quả nghiên cứu của luận án và một số khuyến nghị về tái cấu trúc NHTM Việt Nam theo các chuẩn mực Basel II Kết luận Danh mục các bài báo khoa học đã đƣợc công bố Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI THEO CÁC CHUẨN MỰC BASEL II 1. Tổng quan nghiên cứu về tái cấu trúc ngân hàng Nghiên cứu sinh đã đọc, so sánh, tổng hợp các nghiên cứu cơ bản, các nghiên cứu ứng dụng về tái cấu trúc doanh nghiệp, tái cấu trúc NHTM ở trong nƣớc và quốc tế. Kết quả cho thấy có nhiều quan điểm tái cấu trúc nhƣ sau: 1. Tái cấu trúc sở hữu Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng có thể sử dụng một hay nhiều nguồn vốn.
Khi có sự bất ổn, hình thức sở hữu, cơ cấu vốn có thể thay đổi, hoán đổi, bổ sung đa dạng để phù hợp với nhu cầu tồn tại, phát triển của các ngân hàng. Trong cuốn sách “Bank restructuring in practice: an over view”, John Hawkins and Philip Turner (1999) cho r ng việc thay đổi quyền sở hữu ngân hàng có thể đƣợc thực hiện qua các hình thức: i Sáp nhập các ngân hàng trong nƣớc; ii ngân hàng nƣớc ngoài thôn tính; iii sử dụng quyền sở hữu công cộng kéo dài. Trong đó, việc sáp nhập các ngân hàng trong nƣớc giúp các ngân hàng tăng vốn, giảm nợ xấu, chất lƣợng quản lý đƣợc cải thiện và cần chú ý tới hiệu quả sáp nhập, khác biệt văn hóa, liên kết công nghệ và sa thải nhân viên thừa. Trƣờng hợp để ngân hàng nƣớc ngoài thôn tính, các ngân hàng yếu có thể tìm đƣợc ngân hàng mạnh đủ khả năng hỗ trợ vƣợt qua khủng hoảng, cải thiện đƣợc chất lƣợng, khả năng thanh khoản, tăng khả năng cạnh tranh, tiếp cận công nghệ mới, tăng vị thế thƣơng hiệu… Khó khăn lớn khi áp dụng hình thức này là rào cản nhạy cảm chính trị, vấn đề chuyển giá tránh thuế của ngân hàng ngoại thông qua việc mua lại một ngân hàng trong nƣớc.
Hình thức sở hữu công cộng kéo dài thực chất là cơ chế để cho nhà nƣớc hoặc một trong các cơ quan của nhà nƣớc tiếp nhận các ngân hàng khó khăn tạm thời; lƣu ý thách thức từ việc duy trì hoạt động thƣờng xuyên và việc thu hồi các khoản nợ xấu của ngân hàng yếu kém… Trong báo cáo kết quả nghiên cứu có tên “Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của NHTM 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu”, Nguyễn Hồng Sơn và nhóm nghiên cứu 2014 đã chỉ ra r ng mức độ tập trung vốn chủ sở hữu và tỷ lệ sở hữu tƣ nhân có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của NHTM; tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của NHTM. Một số gợi ý chính sách đƣợc đƣa ra cho các NHTM bao gồm: (i) Khuyến khích các cổ đông lớn tham gia hội đồng quản trị (HĐQT) nh m giảm mâu thuẫn lợi ích trong các NHTM; (ii) Khuyến khích tăng cƣờng sở hữu tƣ nhân trong các NHTM nh m tăng khả năng sinh lời; (iii) Thúc đẩy cải thiện quản trị công ty trong các NHTM theo thông lệ quốc tế; (iv) Đẩy mạnh xử lý nợ xấu trong quá trình tái cơ cấu hệ thống NHTM Việt Nam. Romulo Magalhaes và cộng sự (2010) trong tác phẩm “Bank s ownership structure, risk and performance” đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu với rủi ro và hiệu suất của NHTM. Sau khảo sát 795 ngân hàng của 47 quốc gia trong giai đoạn từ 1997 ~ 2007, phân tích kết quả chỉ ra r ng: (i) Tồn tại một mối quan hệ giữa quyền sở hữu với các hoạt động ngân hàng; ii rủi ro ngân hàng tăng theo giá trị quyền sở hữu; iii tính nghiêm ngặt của các quy định về vốn có ảnh hƣởng tích cực đến hiệu suất ngân hàng; iv có một sự ảnh hƣởng tiêu cực từ việc giám sát thông tin từ bên ngoài mà cụ thể là việc vƣợt quá mức công bố thông tin minh bạch làm giảm mức độ cạnh tranh của các công ty.
Ở Việt Nam, luận án tiến sĩ với đề tài “Tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam” của Nguyễn Quỳnh Hoa (2014) đã chỉ ra cấu trúc sở hữu của NHTM Việt Nam đa dạng, phù hợp với trình độ phát triển và xu thế hội nhập. Tuy nhiên, cơ cấu sở hữu chéo giữa các NHTM, sự tham gia của các tập đoàn kinh tế vào NHTM là nguyên nhân dẫn đến sự mất an toàn và lành mạnh của NHTM Việt Nam. Sở hữu chéo dẫn đến tăng nợ xấu, mất khả năng thanh khoản, khả năng trả nợ của NHTM. Sở hữu chéo dẫn tới tình trạng làm tăng vốn ảo nên nguồn lực và khả năng chống đỡ rủi ro của NHTM giảm sút.
Trong nghiên cứu “Đánh giá kết quả tái cơ cấu hệ thống ngân hàng 2012 2014 và những khuyến nghị” nêu tại Kỷ yếu diễn đàn kinh tế mùa thu, Ngô Trí Long 2014 đã chỉ ra tái cơ cấu sở hữu NHTM có ý nghĩa quyết định đến chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và việc tuân thủ pháp luật của từng loại hình NHTM ngân hàng thuộc sở hữu tƣ nhân, thuộc sở hữu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các cổ đông, ngân hàng thuộc sở hữu nhà nƣớc, ngân hàng liên doanh theo xu hƣớng chung là tái cấu trúc sở hữu nh m giảm dần tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc, tăng tỷ lệ sở hữu cho các thành phần kinh tế khác, thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị đƣợc đƣa ra nhƣ sau: Hoàn thiện môi trƣờng pháp lý, nâng cao vai trò giám sát của NHNN và Chính phủ; phối hợp với VAMC trong việc xử lý các khoản nợ xấu, xử lý sở hữu chéo, tăng tính thông tin minh bạch cho tổ chức tín dụng; tiếp tục sáp nhập ngân hàng phá sản, yếu kém, tăng cƣờng năng lực tài chính của NHTM; đổi mới kiện toàn công tác nhân sự. Nhƣ vậy có thể nói r ng, tái cấu trúc pháp nhân, sở hữu NHTM có thể làm nâng cao tƣ cách pháp lý, uy tín, pháp nhân của tổ chức; minh bạch hóa cấu trúc sở hữu, giảm thiểu tình trạng sở hữu chéo, sở hữu hỗn hợp; huy động vốn nh m tận dụng lợi thế về quy mô hoặc tìm thêm đối tác có tiềm lực tài chính góp phần giải quyết khó khăn cho NHTM. Tái cấu trúc chiến lƣợc Các ngân hàng tùy theo tính chất, đặc điểm, quy mô mà có những chiến lƣợc khác nhau để đạt đƣợc mục tiêu hoạt động kinh doanh của họ.Chan Kim & Renne Maubourgne (2007) trong cuốn sách “The Ocean Blue Strategy” đã phân tích cấu trúc chiến lƣợc dựa trên lý thuyết tăng trƣởng nội sinh; theo đó các doanh nghiệp có thể cấu trúc chiến lƣợc sản phẩm, dịch vụ theo hƣớng tạo ra giá trị mới nh m thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và vô hiệu hóa cạnh tranh (Chiến lƣợc Đại dƣơng xanh.
Hoàng Văn Hải (2010) - Tác giả cuốn sách “Quản trị chiến lƣợc” đã mô tả việc thay đổi cấu trúc tổ chức theo chiến lƣợc dựa trên quan điểm của Alfred Chandler nhƣ sau: “Những thay đổi trong chiến lƣợc của một tổ chức đem lại những vấn đề quản trị mới mà đến lƣợt nó đòi hỏi một cơ cấu mới để chiến lƣợc mới đƣợc thực thi thành công”. Ngô Kim Thanh 2011 trong cuốn sách “Giáo trình quản trị chiến lƣợc” đã xác định: “ tái cơ cấu doanh nghiệp đƣợc thực hiện thông qua hai nội dung cơ bản: i điều chỉnh cơ cấu sản xuất kinh doanh, chuyển hƣớng chiến lƣợc nhƣ giảm bớt đa dạng hóa, tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chủ chốt; (ii) cấu trúc lại tổ chức quản lý doanh nghiệp. Nguyễn Khƣơng 2012 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong bài báo “Tập đoàn kinh tế: Mô hình quản lý và chiến lƣợc phát triển” cho r ng các giai đoạn phát triển của tập đoàn kinh tế (kể cả tập đoàn tài chính ngân hàng bao gồm giai đoạn là hình thành, tăng trƣởng, trƣởng thành, bão hòa, suy thoái và tƣơng ứng với các giai đoạn này là chiến lƣợc tập trung hóa; liên kết mở rộng, liên minh chiến lƣợc; đa dạng hóa thị trƣờng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ; khác biệt hóa, Đại dƣơng xanh; chiến lƣợc chi phí thấp. Theo đó các ngân hàng nên xác định rõ vị trí của mình trong chu kỳ phát triển để tái cấu trúc chiến lƣợc cho phù hợp.
Trong tác phẩm “Bank restructuring in practice: an over view”, John Hawkins and Philip Turner (1999) cho r ng tái cấu trúc NHTM có thể đƣợc thực hiện thông qua việc Chính phủ bơm vốn hỗ trợ; sử dụng công ty quản lý tài sản NHTM; sáp nhập ngân hàng trong nƣớc và ngân hàng nƣớc ngoài tiếp cận. Nhƣ vậy cấu trúc lại chiến lƣợc giúp các NHTM tìm ra cách thức thực hiện nh m đạt đƣợc mục tiêu của NHTM. Tái cấu trúc hệ thống quản trị Về cơ cấu tổ chức, trong bản dịch cuốn sách “Quản trị ngân hàng thƣơng mại”, Peter S Rose (2004) cho r ng nhân sự và cơ cấu tổ chức phải đƣợc quản lý theo cách tƣơng đồng với chiến lƣợc. Trong tác phẩm “Armstrong s handbook of Management and Leadership for HR”, Armstrong 2009 lý giải quản lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, biên chế, lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm soát… Blyton 2008 cho thấy động lực giúp nhân viên làm việc hiệu quả.
Khả năng cạnh tranh của tổ chức dựa vào kích thƣớc, hiệu quả của lực lƣợng sản xuất (Demigurc-Kunt, 2005). Hellgren & Sverke (2003) trong nghiên cứu có tên “Does Job Insecurity Lead to Impaired Well-being or Viceversa? Estimation Of Cross-lagged Effects Using Latent Variable Modelling” đã khuyến nghị r ng thay đổi cấu trúc của một tổ chức cần đƣợc tính toán chi phí cho sự chấp thuận của lãnh đạo cấp cao và các hoạt động tích lũy. Nguyễn Hồng Sơn 2014 trong nghiên cứu “Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu” đã chỉ ra quản trị công ty có tác động cùng chiều với khả năng sinh lời của công ty.