Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu nghiên cứu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích và đánh giá hoạt động tái cấu trúc tại Ngân hàng TMCP An Bình. Chương 4: Một số gợi ý giúp ngân hàng thương mại cổ phần An Bình tái cấu trúc thành công. 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀTÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm về NHTM Ngân hàng thƣơng mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống ngân hàng thƣơng mại (NHTM) đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM trong phạm vi bài viết này tôi xin trình bày một số khái niệm sau; Ở Mỹ: Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp: Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” Ở Việt Nam: theo luật tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12/12/1997 thì Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Tổ chức tín dụng: là loại hình doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của lậu các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Nhƣ vậy ngân hàng thƣơng mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn 12 tiền vốn nhàn rỗi sẽ đƣợc huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam: – Ngân hàng thƣơng mại Quốc doanh: Là ngân hàng thƣơng mại đƣợc thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nƣớc. – Ngân hàng thƣơng mại cổ phần: Là ngân hàng thƣơng mại đƣợc thành lập dƣới hình thức công ty cổ phần.
Trong đó một cá nhân hay pháp nhân chỉ đƣợc sở hữu một số cổ phần nhất định theo qui định của ngân hàng nhà nƣớc Việt nam. – Ngân hàng liên doanh (thuộc loại hình tổ chức tín dụng liên doanh): Là Ngân hàng đƣợc thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là ngân hàng thƣơng mại Việt Nam và bên khác là ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài có trụ sở đặt tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật ở Việt Nam. – Chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài: là ngân hàng đƣợc thành lập theo pháp luật nƣớc ngoài, đƣợc phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.2 Chức năng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, ngân hàng thƣơng mại vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay và hƣởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngƣời gửi tiền và ngƣời đi vay.2 Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp ngƣời phải thanh toán 13 dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phƣơng thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.3 Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền đƣợc thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động đƣợc để cho vay, số tiền cho vay ra lại đƣợc khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dƣ trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn đƣợc coi là một bộ phận của tiền giao dịch, đƣợc họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phƣơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.3 Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu và đang diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung và qui mô trên nhiều lĩnh vực.
Trong xu thế đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đƣợc bắt đầu từ năm 1986, khi Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở đƣờng cho công cuộc đổi mới một cách toàn diện theo hƣớng chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Việt Nam đã gia nhập khối ASEAN năm 1995, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, gia nhập APEC năm 1998, ký Hiệp định Thƣơng mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000 và ký kết nhiều hiệp định thƣơng mại, đầu tƣ khác. Đáng chú ý là từ năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thƣơng mại thế giới (WTO), là mốc son quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nƣớc, bắt đầu quá trình hội nhập sâu rộng với thị trƣờng quốc tế nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng. Thực tế cho thấy, ngành Ngân hàng đã có nhiều nỗ lực cải cách đáng kể theo hƣớng thị trƣờng và 14 mở cửa khu vực dịch vụ tài chính – ngân hàng trƣớc yêu cầu phát triển kinh tế trong nƣớc và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế cũng góp phần thúc đẩy quá trình thu hút nguồn vốn đầu tƣ, tạo điều kiện giúp các NHTM phát triển các mối quan hệ đại lý, thanh toán quốc tế, tài trợ thƣơng mại, hợp tác đầu tƣ và trao đổi công nghệ. Hơn nữa, việc Việt Nam gia nhập WTO cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nƣớc chủ động trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trƣờng để tồn tại và phát triển, không chỉ ở trong nƣớc mà còn mở rộng hoạt động ra nƣớc ngoài. Hoạt động của các ngân hàng và tổ chức tài chính nƣớc ngoài trên thị trƣờng Việt Nam đang ngày càng mở rộng, nhất là từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Đến nay, có 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài, 70 chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, 8 công ty cho thuê tài chính, 86 văn phòng đại diện nƣớc ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.
Các tổ chức này đều là những ngân hàng và tổ chức tài chính lớn, có uy tín và độ an toàn cao, có khả năng cạnh tranh tốt. Mặc dù thị phần hoạt động của các TCTD nƣớc ngoài vẫn còn ở mức khiêm tốn (khoảng 10%), nhƣng có vị trí quan trọng trong hệ thống các định chế tài chính tại Việt Nam. Các TCTD nƣớc ngoài là kênh truyền dẫn vào Việt Nam các công nghệ ngân hàng hiện đại và kinh nghiệm quản trị ngân hàng tiên tiến, đồng thời bổ sung nguồn tài chính không nhỏ cho thị trƣờng tài chính Việt Nam. Trong thời gian qua, NHNN đã điều chỉnh các mục tiêu chính sách tiền tệ (CSTT) ngắn hạn cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện phát triển kinh tế trong từng thời kỳ.
Đáng chú ý là trong giai đoạn 2011 đến nay, do ảnh hƣởng của những diễn biến bất lợi của kinh tế toàn cầu, tình hình kinh tế vĩ mô trong nƣớc có nhiều biến động.