MỞ ĐẦU Trinh nữ hoàng cung (THNC) là một loại cây thuốc đƣợc sử dụng là thuốc cổ truyền ở nhiều nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới [12]. Hiện nay, ngƣời ta đã phát hiện đến 130 loài khác nhau, phân bố ở các nƣớc nhiệt đới và hơn 150 alkaloid trong loài cây này đã đƣợc chiết tách [17], [18]. TNHC (Crinium latifolium (L.) đã đƣợc dùng nhƣ loại thuốc y học cổ truyền để điều trị các bệnh Viêm khớp dạng thấp, ung thƣ, lao, viêm do vi khuẩn sinh mủ…Ở Trung quốc và Việt nam, thuốc sắc trong nƣớc nóng của loài này vẫn dùng để điều trị nhờ hoạt tính chống virut và chống ung thƣ, đặc biệt là ung thƣ tuyến tiền liệt cho đến ngày nay [41]. Một số nghiên cứu đã và đang chiết xuất từ lá cây TNHC, chính xác với tên mới là Trinh nữ Crila [16] và thử nghiệm in vitro và in vivo [8], [39], [40].
Trên các tế bào đơn nhân máu ngoại vi đƣợc nuôi cấy và trên chuột thực nghiệm cho thấy các chất chiết hoạt hóa tế bào lympho T nuôi cấy và cả ở chuột Balb/c. Nhiều hoạt chất có tác dụng chống phân bào, ức chế phát triển tế bào ung thƣ đồng thời phục hồi chức năng miễn dịch. Viên nang Crila biệt dƣợc của Nguyễn Thị Ngọc Trâm, chiết từ lá cây Trinh nữ Crila đƣợc sản xuất từ các alkaloid có hoạt tính sinh học. Thuốc này đã đƣợc đăng ký sản xuất, sử dụng rộng rãi ở Việt Nam và một số nƣớc ngoài để điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt và u xơ tử cung.
Ngoài ra, viên Crila còn đƣợc nghiên cứu sử dụng để điều trị thực nghiệm các tế bào dòng ung thƣ vú, tử cung, dạ dày, phổi, tuyến tiền liệt và trên một số bệnh nhân ung thƣ tự nguyện [17], [30]. Các phân đoạn đã chứng minh là có tác dụng tăng cƣờng miễn dịch và chống ung thƣ mạnh nhất (gồm các alkaloid và flavonoid) cũng đã đƣợc chiết và làm thành viên nén có tên là Crilin T. Các đặc tính hóa, lý và tác dụng độc tính cấp, bán cấp…của thuốc đã đƣợc đánh giá. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tác dụng tăng cƣờng miễn dịch in vitro trên mô hình bệnh nhân ung thƣ đã có suy giảm miễn dịch, bằng cách nuôi cấy tế bào máu ngoại vi của bệnh nhân ung thƣ vòm mũi họng giai đoạn muộn và thử các nồng độ thuốc khác nhau và theo dõi đáp ứng miễn dịch chống ung thƣ bởi các dấu ấn biểu lộ IL-2, TNFα ở mức độ ARN và protein bằng phƣơng pháp RT-PCR và ELISA một cách tƣơng ứng.
Đề tài này nhằm mục đích: 1. Xác định biểu lộ của IL-2 và TNF-α ở mức độ mARN và protein của tế bào lympho nuôi cấy in vitro của bệnh nhân ung thƣ vòm mũi họng giai đoạn muộn và ngƣời bình thƣờng về lâm sàng với hai liều thuốc khác nhau. Đánh giá tác dụng tăng cƣờng miễn dịch của Crilin T so với Levamisol 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cây Trinh nữ hoàng cung Cây Trinh nữ hoàng cung (TNHC) còn đƣợc gọi là Náng lá rộng, Tỏi lá rộng, Tây nam văn châu lan, Thập bát học sĩ - Crinum latifolium L., thuộc họ Náng Amaryllidaceae [18], [50].
TNHC là một loài có thân nhƣ củ hành tây to, đƣờng kính 10-15 mm, bẹ lá úp vào nhau thành một thân giả dài khoảng 10-15 cm, có chiều lá mỏng kéo dài từ 80- 100 cm, rộng 3-8 cm, hai bên mép lá lƣợn sóng. Gân lá song song mặt trên lá lõm thành rãnh, mặt dƣới lá có một có một sống lá nổi rất rõ, đầu bẹ lá nơi sát đất có màu đỏ tím. Hoa mọc thành tán gồm 6-18 hoa, trên một cán dài 30-60 cm. Cánh hoa màu trắng có điểm màu tím đỏ [14], [41].
Cây TNHC có nhiều nƣớc Đông Nam Á và Nhật bản, gồm Việt Nam, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Philippin, Campuchia, Lào [25], [31], [50]. Ở Việt Nam cây mọc hoang ven suối trong rừng và cây thƣờng phát triển mạnh ở các vùng có khí hậu nóng khô từ Đà Nẵng đến tận mũi Cà Mau, đặc biệt là ở một số nơi thuộc tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu [9], [14], [18]. Cây trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium L.) 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân biệt cây TNHC với các cây náng khác Trong tự nhiên, có nhiều cây giống nhau về hình thái, đặc điểm thực vật…trong một họ nhất định.
Do đó, để phân biệt cây TNHC có tác dụng sinh học, tránh nhầm lẫn với các cây náng khác giống với cây TNHC có ở Việt Nam, Nguyễn Thị Ngọc Trâm không chỉ dựa vào hình thái thực vật mà còn phân tích đặc tính di truyền (ADN) đặc trƣng của cây TNHC có ở Việt Nam. Theo Nguyễn Thị Ngọc Trâm, có 6 loại cây náng khác giống với cây TNHC (Hình 1.1) mà tác giả đã chọn làm thuốc viên nang Crila và Crilin T. Cây này đã đƣợc gọi với tên chi riêng là “Trinh nữ Crila” và đƣợc trồng thành nhiều điền trang ở Bình Dƣơng [16]. Về hình dáng, TNHC có hình dáng bên ngoài rất giống với cây náng hoa trắng, cây huệ biển.
Thậm chí, TNHC còn có hình dáng bên ngoài rất giống với một loại cây có tác dụng làm giảm khả năng sinh sản. Sự nhầm lẫn nhiều khi rất tai hại, nó không những không giúp cho điều trị mà có thể ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe. Những cây khác cùng họ với Crinum Một đặc điểm của lá TNHC khác với các cây náng hoa trắng và náng hoa đỏ là mép lá xoăn hình lƣợn sóng, trong khi 2 cây cùng họ cao hơn, lá to và dài hơn. Hoa gồm 1 cán dài 40-60 cm, to cỡ ngón tay cái, hoa tựa nhƣ hoa loa kèn to, có màu trắng và màu hồng phấn từ cuống hoa trở lên độ ¼ hoa rất đẹp, nhƣng nhiều khi 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuống không mang nổi hoa mà bị đổ, nhất là trồng ở đất tốt, không đủ nắng.
TNHC cũng nhƣ các cây thuộc họ thuỷ tiên có hoa thơm, náng hoa trắng có hoa thơm hơn. Để có thể phân biệt cây TNHC với cây Lan huệ cùng chi Crinum, phải dựa trên sự khác nhau về hình thái thực vật. Sự khác nhau về hình thái giữa hai cây này trình bày trong bảng sau: Bảng 1. So sánh cây TNHC và cây Lan huệ TNHC Lan huệ - Hoa ít thơm - Hoa rất thơm - Cánh hoa mảnh, rộng, màu phớt hồng.
- Cánh hoa hẹp, màu trắng xanh. - Nụ hoa chƣa nở phồng to, ngắn. - Nụ hoa lúc chƣa nở thon dài hơn. - Số hoa thƣờng là 6 trên một tán hoa, - Trên một tán hoa thƣờng có 12 hoa có khi là 9, 10, 12.
- Chỉ nhụy hoa màu trắng. - Chỉ nhụy hoa màu đỏ tía. - Cuống hoa tròn, đế tán hoa hơi cong, - Cuống hoa dài hơn TNHC (10-12 cm), dài khoảng 7cm, đế hoa và cuống hoa đế hoa và cuống hoa màu đỏ tía. - Khi hoa nở hết, các cánh hoa vẫn xếp - Khi hoa nở hết, các cánh hoa tách rời sát nhau giữ hình ống.
nhau ra, uốn cong xuống. - Lá có màu xanh nhạt hơi vàng - Lá có màu xanh đậm hơn, lá dầy hơn lá TNHC. - Thân thƣờng ngắn, có màu đỏ tía. - Thân cao hơn, thƣờng có màu xanh, đôi khi cũng có màu đỏ tía.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Thành phần hóa học của cây Crinum latifolium L. Các nhà khoa học Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đã nghiên cứu thành phần hóa học của cây náng có tên khoa học Crinum latifolium L. Thành phần alkaloid của cây Crinum latifolium L.
Ấn Độ: 11-O-Acetylambelline, 11-O-Acetyl-1,2-- epoxyambelline, Ambeline, Crinafolidine, Crinafoline, (-) 2-Epilycorine, 2- Epipancrassidine, 1,2--epoxyambelline, Hippadine (Pratorine, Alkalois N3), Latindine, Latisodine, Latisoline (Latisodine-O--D-glucopyranosyl), (-) Lycorine, (-) Lycorine-1-0--glucoside, Pratorimine, Pratorinine, Pratosine, Pseudolycorine- 1-0--D-glucpside [25], [27]. Nhật Bản: 3-O-Acetylhamayne, (-) Acetyllycorine, Cherylline (S), (+) Crinamine, (-) Crinine (Vittatine, Crinidine), Hamayne (Bulbispermine, Demethylcrinamine), Hipeastrine, Latifine (S), Powelline, Undulatine [31]. Cấu trúc hóa học của một số Alkaloid [39] 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Cây TNHC Việt Nam với tên mới là Trinh nữ Crila (Crinum latifolium L.): 9- Octadecenamideb, Dihydro-oxo-demethoxyhaemanthamine, Augustamine, Oxoassoanine, Crinane-3--ol, Buphannidrine, Powelline, Undulatine, Ambelline, 6- hydroxybuphannidrine, 1,2-epoxyambelline, 6-hydroxycrinamidine, Epoxy-3,7- dimethoxycrinane-11-one, Lycorin và Pratorin (Hippadin) và các flavonoid: 4’7- dihydroxy-3-vinyloxyflavan, 4’7-dihydroxyflavan, kaemperol-3-O--glucopyranoside [9], [14],[17], [41]. Thành phần hóa học khác của cây Crinum latifolium L.
Nhật Bản có Glucan a và Glucan b. + Cây TNHC Việt Nam (Crinum latifolium L.) có 32 chất bay hơi và saponin, acid hữu cơ, amino acid, p-hydroxycinnamat metyl, 3,4’- dihydroxycinnamat ethyl, keampferol-3-4-di-O--D-glucopyranosit. Các hỗn hợp alkaloid của cây TNHC [39] 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình nghiên cứu cây TNHC ở Việt Nam Viên nang Crila ra đời từ cụm công trình nghiên cứu về cây TNHC của Nguyễn Thị Ngọc Trâm và cộng sự trong và ngoài nƣớc [30], [40].
Viên nang Crila được sản xuất từ các alkaloid có hoạt tính sinh học được chiết xuất từ lá cây TNHC, điều trị u xơ tử cung và phì đại lành tính tuyến tiền liệt [40]. Viên nang Crila đã đƣợc Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ƣơng nghiên cứu nâng cấp tiêu chuẩn kiểm nghiệm định lƣợng hàm lƣợng alkaloid bằng phƣơng pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [39]. “Nghiên cứu định tính, định lượng crinamidin trong dược liệu và viên nang TNHC bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao” [2],[14], [18], [41]. Viên thuốc Crila đƣợc sản xuất từ vùng trồng TNHC hay Trinh nữ Crila của Công ty Thiên Dƣợc, Bình Dƣơng, đạt tiêu chuẩn của GACP – WHO và nhà máy của Công ty TNHH Thiên Dƣợc đã đƣợc Cục quản lý dƣợc – Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GMP-WHO (Thực hành tốt nhà máy sản xuất thuốc), GLP (Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc), GSP (Thực hành tốt bảo quản thuốc) [18].
Thuốc này đã đƣợc thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện trung ƣơng và đã đƣợc hội đồng khoa học công nghệ - Bộ Y tế đánh giá với hiệu quả điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt đạt 89,18%, đối với u xơ tử cung là 79,5% [15]. Thuốc Crila đƣợc ngƣời bệnh tin dùng vì hiệu quả điều trị cao, giá thành hợp lý, phù hợp với thu nhập của đa số bệnh nhân đặc biệt bệnh nhân nghèo. Từ khi sản phẩm ra đời cho đến nay chƣa thấy có ý kiến của ngƣời bệnh về tác dụng không mong muốn làm ảnh hƣởng đến sức khỏe hoặc chất lƣợng cuộc sống. Ngoài sản phẩm thuốc Crila, cụm công trình nghiên cứu về cây TNHC còn có thêm hai sản phẩm thực phẩm chức năng viên nang Crilin và Trà túi lọc TNHC.