Đặt vấn đề Dai tháo đường (DTD) là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa mạn tính đặc trưng bởi sự tăng glucose máu do suy giảm sản xuất insulin và/hoặc không đáp ứng với insulin tại các mô đích. DTD gây ra rất nhiều các biến chứng nghiêm trọng liên quan đến tim mach, gan, than, thần kinh, mach máu, loét chi. DTD là một trong những bệnh ngày càng trẻ hoá, DTD loại 2 có tỷ lệ mắc ngày càng tăng cao, nó được coi là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và dé lại hậu qua vô cùng to lớn. Theo Hiệp hội Dai tháo đường thế giới (IDF) năm 2021, số lượng bệnh nhân mắc khoảng 537 triệu người (20-79 tuổi) con số này dự đoán sẽ tăng lên 643 triệu vào năm 2030 và 783 triệu vào năm 2045.
Tại Đông Nam A, cứ 11 người lớn thì có 1 người mắc bệnh DTD, số lượng người trường thành mắc DTD dự kiến tăng lên 1 13 triệu người vào năm 2030 và 2045 khoảng 151 triệu người. Theo ước tinh, trong 2 người thì có 1 người không được chuẩn đoán, đã có 747000 ca tử vong vì DTD và 10 ty USD đã được chi ra cho DTD (IDF, 2021). Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh DTD loại 2 ở người trưởng thành đã tăng gấp đôi từ 2,7% năm 2003 lên 5,7% vào năm 2012, và số người mắc bệnh đái tháo đường cũng sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030 so với năm 2010 (Tran và ctv, 2022). Hiện nay, các loại thuốc được sử dụng để điều trị ĐTĐ đã đem lại những hiệu quả nhất định giúp ôn định đường huyết và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Tuy nhiên, việc ngăn ngừa và làm chậm tiến triển các biến chứng của DTD vẫn đang là một thách thức lớn. Vì thế việc tìm ra các liệu pháp mới có tác dụng điều trị toàn điện hơn đang được quan tâm. Trong đó, thảo dược là một trong những đối tượng tiềm năng, một nguồn đa dạng các thành phan hoạt chất, được chứng minh không chỉ có tác dụng hạ/điều hòa glucose huyết mà còn có các tác dụng bé trợ khác giúp ngăn ngừa và giảm thiểu biến chứng do DTD gây ra (Fukunaga va ctv, 1997; Kim và ctv, 2020; Ramadan va ctv, 2017). Cây chuối chan voi (Ensete glaucum (Roxb.) Cheesman) hay còn được gọi là chuối cô đơn, thuộc ho Musaceae, phan bồ nhiều ở vườn quốc gia Phước Binh (tỉnh Ninh Thuận) và VQG Bu Gia Map (tỉnh Bình Phước).
Theo dân gian thì các bộ phận khác nhau của cây chuối như thân, quả, be, củ, hạt chuối đều được người dân tận dụng dé làm những bài thuốc 1 khác nhau. Hạt được đồng bào các dân tộc sử dụng rộng rãi để chữa các bệnh đường ruột, đái tháo đường, sỏi thận, phù thủng, loét dạ dày, dị ứng ngoài da. Hiện nay, có một số nghiên cứu đã khảo sát thành phần hoá học của chuối chân voi cho thấy hạt chứa flavonoid, saponin, tannin; trong thịt qua có chứa flavonoid, saponin, tannin, acid amin, trong vỏ quả có chứa flavonoid, acid amin, terpenoid (Ly va ctv, 2022). Ngoài ra, tai Trung tam Sâm va Dược liệu Thanh Phố Hồ Chí Minh cũng đã khảo sát được thành phan có hoạt tính sinh học có trong cao chiết của hạt.
Kết quả cho thấy cao chiết hạt có đặc tính chống oxy hoá và ức chế xanthin oxidase (Le và ctv, 2022). Từ những kết quả nghiên cứu ban đầu và kinh nghiệm dân gian cho thay hạt chuối chân voi có thé là một được liệu tiềm năng cần nghiên cứu thêm. Streptozotocin (STZ) là tác nhân gây tăng đường huyết được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu thực nghiệm. STZ gây gia tăng các loại oxy phan ứng (ROS), làm ảnh hưởng đến các con đường truyền tín hiệu sinh học khác nhau.
ROS có thé bảo vệ cơ thé trước các tác động gây hại ở nồng độ sinh lý và cơ thể có hệ thống phòng thủ chống oxy hóa để giải ROS khi cần thiết. Tuy nhiên, quá tải ROS làm mắt cân bang các cân chống oxy hóa của cơ thé, có thé dẫn đến tôn thương tế bảo do sự tương tác của chúng với lipid, màng, protein và DNA (Rains và Jain, 2011). Bên cạnh đó, STZ còn kích hoạt các con đường gây viêm, chang hạn như con đường NF-«B, dẫn đến kích hoạt và giải phóng các cytokin gây viêm có thé dẫn đến gia tăng stress oxy hóa tế bào, chết tế bào và đề khang insulin. Đặc biệt, STZ gây hoại tử tế bào B và gây chết tế bào theo cơ chế apoptosis đã được công nhận.
Nhiều tin hiệu trong con đường apoptosis tế bào B gây bởi STZ như Bax, Bcl-2, caspase-3, 8, 9, cytochrom C, PARP,. Streptozotocin là tac nhân gây ra những tac động tương tu như sinh lý bệnh sinh đái tháo đường ở người. Do đó, STZ được sử dụng làm tác nhân gây tăng glucose huyết trên chuột nhắt trang dé khảo sát tác động hạ glucose huyết và chống oxy hoá của cao chiết từ hạt chuối chân voi (Ensete glaucum (Roxb. Mục tiêu của đề tài Đánh giá khả năng hạ glucose huyết và bảo vệ tuy của cao chiết từ hạt chuối chân voi (Ensete glaucum (Roxb.) Cheesman) trên mô hình thực nghiệm gây tăng glucose huyết bởi streptozotocin.
Nội dung thực hiện 1. Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết từ hạt chuối chân voi đối với nồng độ glucose huyết của chuột nhat trang gây tăng glucose huyết bang streptozotocin. Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết hạt chuối chân voi đối với thể trọng và trọng lượng tương đối tuy, gan, thận của chuột nhat trắng gây tăng glucose huyết bởi STZ. Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết từ hạt chuối chân voi đối với một số chỉ dấu sinh học stress oxy hoá ở tuy, gan, thận của chuột nhắt trắng gây tăng glucose huyết bởi streptozotocin.
Bước đầu khám pha cơ chế tác dụng cải thiện tốn thương tuy của cao chiết từ hat chuối chân voi thông qua lượng IL-6, TNF-a và sự biểu hiện một số protem. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Cây chuối chân voi (Ensete glaucum (Roxb.) Cheesman) Cây chuối Chân voi, chuối cô đơn, chuối tuyết có tên khoa học là (Ensete glaucum (Roxb. Tên đồng nghĩa: Musa glauca, Musa calosperma, Musa troglodytarum var.
dolioformis, Musa nepalensis, Ensete giganteum, Ensete agharkarii, Musa agharkarii, Musa gigantea, Ensete calospermum. Cây chuối chân voi Ensete glaucum (Roxb.) Cheesm thuộc giới: Thực vat, họ: Musaceae, chi: Ensefe, loài: Ensete glaucum (Roxb. Phan bé va sinh thai Phân bố tự nhiên ở Trung Quốc, An Độ, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines, Papua New Guinea và Thái Lan. O An Độ nó được tim thấy ở Arunachal Pradesh, Assam, Manipur, Meghalaya, Mizoram, Nagaland va Tripura.
Trong một số vùng của An Độ, nó cũng được trồng trong vườn nhà dé làm cảnh (Joe và ctv, 2016). Cây chuối chân voi thường được tìm thấy ở những nơi trống trải gần bìa rừng rụng lá khô và đồng cỏ. Nó thỉnh thoảng mọc gần những con suối nhỏ và trên bờ sông, trong đất âm, đôi khi cùng xuất hiện với Musa balbisiana và M. Trong mùa khô, cây sẽ ở trạng thái ngủ đông mà không có lá.
Sự ra hoa xảy ra trong vòng một hoặc hai năm sau khi nảy mầm nếu có đủ nước và chất dinh dưỡng, và có thé kéo dài hơn 5 năm trong điều kiện kém màu mỡ hơn. Đặc điểm thực vật Cây thân thảo không có lá mam, cây không có chi hút. Giả hành hình nón với phần gốc phình to rõ rệt, các giả hành trưởng thành thuôn dai cao 1,5 - 5 m, mập map, chu vi ở gốc 0,8 - 1,5 m, có các be lá bên ngoài xếp sát nhau, có màu xanh lục, trong, bóng, càng về phía đỉnh cảng bóng, nỗi rõ ở giai đoạn non, nhựa cây có mau cam. Kiểu cuống của lá mọc thắng đến trung gian hoặc rủ xuống, các lá xếp thành một chùm ở cuối giả thân, phiến lá 150 - 210 x 40 - 60 em, hình mác, đỉnh nhọn, màu xanh lục ở gan trục, xin màu, xanh ở gan trục trung bình, nhãn, gốc lá đối xứng, cả hai các cạnh 4 nhọn, gân giữa mau xanh lục, dọc trục mau lục vàng.
Cuống lá dai 35 - 65 cm, màu lục hoặc lục vàng, nhẫn, mép mở rộng, không có vết ở gốc, gốc có cánh, nhẫn, lỏng lẻo hoặc không ôm lấy giả hành. Cụm hoa rũ xuống, cuống dai 35 - 90 cm, màu lục, nhăn, hình vòng cung. Quả thang, dai 7,4 - 8,2 cm, hơi có go, đỉnh cùn hoặc nhọn, có tan hoa, không có cuống, vỏ quả màu xanh lục, hơi óng, khi chín màu vàng, cùi màu kem. Hạt nhiều, thay đổi theo sự thụ tinh, 7 - 21 hạt mỗi quả, 1 - 1,3 x 0,8 - 1,2 cm, tròn hoặc tròn không đều, màu đen trừ vùng rốn phổi, bề mặt nhẫn (Joe va ctv, 2016).
Hình thái cây Ensete glaucum (Roxb. (A) Cây trưởng thành, mii tên chỉ cum hoa; (B) mặt cat dọc quả chín; (C) Hat đã được tách và làm sạch. Thành phần hoá học Những nghiên cứu ngoài nước đã chỉ ra trong nhựa của cây chứa các nhóm hợp chất như đường khử, saponin, flavonoid, terpenoid, glycosid và alkaloid (Joga va ctv, 2020). Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về thành phan hoá học của loài này.
Một số loài chuối liên quan cũng đã được nghiên cứu về thành phần hóa học. Thân giả Ensete superbum cho thay sự hiện điện của sterol và flavanoid trong chiết xuất ether đầu hỏa và toluen, chiết xuất cloroform có alkaloid, sterol và flavanoid, chiết xuất ethyl acetat và aceton có alkaloid, carbohydrat, glycosid, flavonoid, sterol, tannin và 5 protein, chiết xuất methanol và nước có carbohydrat, glycosid, flavonoid, tannin và protein. Trong một nghiên cứu khác, chiết xuất methanol bột của hạt được kiểm tra bang GC - MS có sự hiện hiện của 11 thành phần bao gồm: Eugenol, acid n-hexadecanoic, 9-Eicosyn, acid 3-Decanynoic, 1-Tetradecyn, 7-Methyl-Z-tetradecen-1-ol acetat, I-Hexadecyn, Z-(13,14-Epoxy)tetradec-Il-en-l-ol acetat, acid octadecanoic, Tridecanedial va acid cis-13-Eicosenoic. Phân tích HPLC có 5 hợp chat flavonoid bao gồm acid gallic, acid caffeic, rutin, quercetin va acid ferulic (Ramasamy, 2018).
Dịch chiết methanol thân của Musa balbisiana Colla có chứa protein va cacbonhydrat, phenolic va flavonoid. Phân tích GC — MS cho thay có 5 hop chất được phát hiện gồm: difluoroisocyanatophosphin, 2'-methoxy- 2,3',4,4'-tetrabromodiphenyl ether, acid isophthalic, este etyl 6-etyloct-3-yl, acid phthalic , 2-(4-chlorophenoxy)etyl hexylester va pseudodiosgenin diacetat (Swargiary va Sciences, 2020). Trong một nghiên cứu mới đây về loài Musa acuminate, chiết xuất ethanol vỏ quả được kiểm tra bằng GC — MS cho thấy có sự xuất hiện của rất nhiều loại tỉnh dầu trong đó các hợp chất chính là isoamyl isobutyrat (18,3%) và acid z-hexadecanoic (22,05%), myristicin 9,31% và acid isovaleric chiếm 8,06%. Bằng phân tích HPLC va GC —- MSMS 76 hợp chất khác nhau đã được phát hiện.
Trong đó, các hợp chất phenolie bao gồm acid phenolic và polyphenol như acid gallic, acid caffeic, acid syringic, acid ferulic, acid salicylic, acid caffeic, acid caffeoylquinic, kaempferol, catechin, acid feruloylquinic, acid vanillic hexosid, acid sinapic-o-glucosidva kaempferol 3-sophortriosid (Mohammed va ctv, 2022).