Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và mỡ máu của dịch chiết cây sắn thuyền

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và mỡ máu của dịch chiết cây sắn thuyền, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2012

90
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Đặt vấn đề

1. CHƯƠNG 1: Các chất thứ cấp từ thực vật

1.1. Phân loại, cấu tạo hoá học và tính chất của các chất thứ cấp từ thực vật

1.1.1. Nhóm các hợp chất terpen

1.1.2. Nhóm các hợp chất phenolic

1.1.2.1. Phân nhóm cumarin
1.1.2.2. Phân nhóm flavonoid
1.1.2.3. Phân nhóm tannin

1.1.3. Nhóm các hợp chất alkaloid

1.2. Tác dụng sinh học của các chất thứ cấp

1.2.1. Tác dụng chống oxy hoá

1.2.2. Tác dụng kháng sinh kháng khuẩn

1.2.3. Một số tác dụng khác

1.3. Các hợp chất thứ cấp và bệnh béo phì, ĐTĐ

1.3.1. Bệnh béo phì

1.3.2. Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Mối quan hệ giữa béo phì và ĐTĐ type 2

1.3.3. Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ. Tình hình nghiên cứu các hợp chất có hoạt tính sinh học chống béo phì và đái tháo đường

1.4. Vài nét về cây sắn thuyền

1.4.1. Đặc điểm sinh học của cây sắn thuyền

1.4.2. Thành phần hóa học của cây sắn thuyền

1.4.3. Tính năng và công dụng của cây sắn thuyền

2. CHƯƠNG 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Mẫu thực vật

2.1.2. Mẫu động vật

2.2. Hoá chất và dụng cụ thí nghiệm

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Khảo sát sơ bộ thành phần hoá học của lá, vỏ cành sắn thuyền

2.3.2. Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và chống béo phì của các phân đoạn dịch chiết từ lá, vỏ cành sắn thuyền

2.3.3. Pha thuốc và hóa chất thí nghiệm

2.3.4. Tiến hành thí nghiệm

2.3.5. Tiến hành lấy mẫu thử nghiệm

2.3.6. Phương pháp xác định một số chỉ số hóa sinh trong máu chuột trước và sau khi điều trị bằng dịch chiết

2.3.7. Xác suất thống kê toán học xử lí số liệu

3. CHƯƠNG 3: Kết quả và thảo luận

3.1. Quy trình chiết, tách các phân đoạn từ lá và vỏ cành sắn thuyền

3.2. Định tính sơ bộ thành phần phần hóa học của dịch chiết

3.3. Định lượng polyphenol tổng số trong các phân đoạn dịch chiết

3.4. Kết quả phân tích thành phần hợp chất tự nhiên trong lá và vỏ cành sắn thuyền bằng sắc ký lớp mỏng

3.5. Kết quả thử độc tính cấp (LD50) theo đường uống

3.6. Kết quả tạo mô hình chuột béo phì thực nghiệm. Khối lượng chuột trung bình của các lô chuột thí nghiệm

3.7. Một số chỉ số hóa sinh của các lô chuột sau 38 ngày nuôi

3.8. Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết lá và vỏ cành sắn thuyền lên chuột béo phì thực nghiệm

3.8.1. Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết lá và vỏ cành sắn thuyền lên khối lượng cơ thể chuột

3.8.2. Nồng độ glucose (mmol/l) máu chuột béo phì sau điều trị

3.8.3. Nồng độ cholesterol (mmol/l) máu chuột

3.8.4. Nồng độ triglycerid (mmol/l) máu chuột

3.8.5. Nồng độ HDLC (mmol/l) máu chuột

3.8.6. Nồng độ LDLC (mmol/l) máu chuột

3.9. Xây dựng mô hình chuột ĐTĐ thực nghiệm

3.9.1. Nồng độ đường huyết của chuột béo phì sau khi tiêm ST

3.9.2. Kết quả thử dung nạp glucose bằng đường uống

3.9.3. Tác dụng của các phân đoạn dịch chiết lá và vỏ cành sắn thuyền lên một số chỉ số glucose trong máu chuột ĐTĐ type 2

3.9.4. Chỉ số GOT máu chuột

3.9.5. Chỉ số GPT máu chuột

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác dụng hạ đường huyết của cây sắn thuyền

Cây sắn thuyền, hay còn gọi là Syzygium polyanthum, đã được nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết. Nghiên cứu cho thấy cây này chứa nhiều hợp chất có khả năng điều chỉnh nồng độ glucose trong máu. Các thành phần hóa học trong cây sắn thuyền có thể giúp cải thiện tình trạng bệnh đái tháo đường, một trong những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hiện nay. Việc sử dụng cây sắn thuyền như một phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường đang được quan tâm và nghiên cứu sâu hơn.

1.1. Cây sắn thuyền và các thành phần hóa học của nó

Cây sắn thuyền chứa nhiều hợp chất phenolic và flavonoid, những chất này có tác dụng chống oxy hóa và kháng viêm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hợp chất này có thể giúp giảm nồng độ đường huyết và cải thiện sức khỏe tổng thể. Việc chiết xuất các thành phần này từ cây sắn thuyền có thể mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh.

1.2. Tình hình nghiên cứu về cây sắn thuyền

Nghiên cứu về cây sắn thuyền vẫn còn đang trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, một số kết quả ban đầu cho thấy cây này có tiềm năng lớn trong việc hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường. Các nhà khoa học đang tiếp tục tìm hiểu để xác định rõ hơn về cơ chế tác dụng của cây sắn thuyền đối với nồng độ đường huyết.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng cây sắn thuyền

Mặc dù cây sắn thuyền có nhiều lợi ích, nhưng việc sử dụng nó trong điều trị bệnh đái tháo đường cũng gặp phải một số thách thức. Một trong những vấn đề chính là việc thiếu thông tin đầy đủ về liều lượng và cách sử dụng hiệu quả. Ngoài ra, cần có thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng để xác định tính an toàn và hiệu quả của cây sắn thuyền trong điều trị bệnh.

2.1. Thiếu thông tin về liều lượng và cách sử dụng

Hiện tại, chưa có hướng dẫn cụ thể về liều lượng và cách sử dụng cây sắn thuyền để hạ đường huyết. Điều này có thể dẫn đến việc sử dụng không đúng cách, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Cần có các nghiên cứu để xác định liều lượng tối ưu cho người bệnh.

2.2. Cần nghiên cứu lâm sàng để xác định tính an toàn

Các nghiên cứu lâm sàng là cần thiết để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của cây sắn thuyền. Việc này sẽ giúp xác định rõ hơn về tác dụng phụ có thể xảy ra và cách thức tương tác với các loại thuốc khác mà người bệnh đang sử dụng.

III. Phương pháp nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cây sắn thuyền

Để nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết của cây sắn thuyền, các nhà khoa học đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp này bao gồm chiết xuất các thành phần hóa học từ cây, thử nghiệm trên mô hình động vật và phân tích các chỉ số sinh hóa trong máu. Những kết quả thu được từ các nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin quý giá về tác dụng của cây sắn thuyền.

3.1. Chiết xuất và phân tích thành phần hóa học

Quy trình chiết xuất các thành phần hóa học từ cây sắn thuyền được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau. Các hợp chất được phân tích để xác định hoạt tính sinh học của chúng. Kết quả cho thấy nhiều hợp chất trong cây có khả năng hạ đường huyết hiệu quả.

3.2. Thử nghiệm trên mô hình động vật

Các thử nghiệm trên mô hình chuột béo phì đã được thực hiện để đánh giá tác dụng của cây sắn thuyền. Kết quả cho thấy nồng độ glucose trong máu của chuột giảm đáng kể sau khi sử dụng dịch chiết từ cây. Điều này cho thấy cây sắn thuyền có tiềm năng trong việc hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường.

IV. Ứng dụng thực tiễn của cây sắn thuyền trong điều trị bệnh

Cây sắn thuyền không chỉ được sử dụng trong y học cổ truyền mà còn có thể được áp dụng trong y học hiện đại. Việc sử dụng cây sắn thuyền như một phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường có thể mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh. Các sản phẩm từ cây sắn thuyền có thể được phát triển thành thuốc hoặc thực phẩm chức năng.

4.1. Phát triển sản phẩm từ cây sắn thuyền

Các sản phẩm từ cây sắn thuyền có thể được phát triển thành thuốc hoặc thực phẩm chức năng. Việc này không chỉ giúp nâng cao giá trị của cây sắn thuyền mà còn mang lại lợi ích cho sức khỏe cộng đồng. Cần có các nghiên cứu để xác định rõ hơn về hiệu quả của các sản phẩm này.

4.2. Tích hợp cây sắn thuyền vào chế độ ăn uống

Cây sắn thuyền có thể được tích hợp vào chế độ ăn uống hàng ngày như một phương pháp hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường. Việc này không chỉ giúp cải thiện sức khỏe mà còn tạo ra sự đa dạng trong chế độ ăn uống của người bệnh.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về cây sắn thuyền

Nghiên cứu về tác dụng hạ đường huyết của cây sắn thuyền đang mở ra nhiều triển vọng mới trong việc điều trị bệnh đái tháo đường. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về cơ chế tác dụng và hiệu quả của cây sắn thuyền. Tương lai của nghiên cứu này có thể dẫn đến việc phát triển các sản phẩm mới từ cây sắn thuyền, mang lại lợi ích cho sức khỏe cộng đồng.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về cây sắn thuyền có thể mở ra nhiều cơ hội mới trong việc phát triển các phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường. Các nhà khoa học cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn về tác dụng và cơ chế hoạt động của cây sắn thuyền.

5.2. Khuyến nghị cho nghiên cứu tiếp theo

Cần có các nghiên cứu lâm sàng để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của cây sắn thuyền. Việc này sẽ giúp xác định rõ hơn về cách sử dụng cây sắn thuyền trong điều trị bệnh đái tháo đường, từ đó phát triển các sản phẩm hỗ trợ điều trị hiệu quả.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. Các chất thứ cấp từ thực vật 1.1 Phân loại, cấu tạo hoá học và tính chất của các chất thứ cấp từ thực vật Chất thứ cấp từ thực vật là các sản phẩm của quá trình trao đổi chất được sinh ra bởi thực vật. Chúng là các chất hoá học được tổng hợp và chuyển hoá từ các chất trao đổi bậc nhất như acid amin, protein, acid nucleic, carbonhydrat, lipid hoặc từ các sản phẩm trung gian của chu trình đường phân, chu trình Krebs… Khác với các chất trao đổi bậc nhất, giữ một vai trò trung tâm và tham gia trực tiếp vào quá trình trao đổi chất của cơ thể, các chất thứ cấp từ thực vật thứ sinh không phải là các yếu tố đặc biệt cần thiết cho quá trình sinh trưởng, phát triển, quang hợp và sinh sản, chúng được tạo ra từ các tế bào chuyên biệt với vai trò điều hoà mối quan hệ qua lại giữa các tế bào trong cơ thể và giữa các cá thể với môi trường sống. Tuỳ thuộc vào cấu trúc hoá học và các thuộc tính lý học của chúng mà các chất thứ cấp từ thực vật được phân thành 3 nhóm chính là: nhóm terpene, nhóm các hợp chất phenolic và nhóm alkaloid [7], [24].3 Nhóm các hợp chất terpen Terpene là nhóm hydrocarbon thực vật lớn và đa dạng nhất, được hình thành từ quá trình polymer hoá các tiểu đơn vị isoprene 5 carbon (C5H8 ), có công thức cấu tạo chung là (C5H8 )n.

trong thực vật terpen e được tổng hợp thông qua con đường trao đổi chất acetate/mevanolate hoặc con đường glyceraldehyde 3- phosphat/ pyruvat. Hầu hết các terpen đều bị khử hoặc bị oxy hoá để hình thành nên các hợp chất terpenoid khác như alcohol, ketone, acid và alđehyde do vậy một số tác giả sử dụng thuật ngữ “terpene” để chỉ chung cho một nhóm các hợp chất bao gồm cả terpene và terpenoid. Terpen là thành phần chính của các loại tinh dầu, được dùng trong công nghệ hương mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm. Những terpen bậc cao thường là các chất có hoạt tính sinh học.[20,38] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Nhóm các hợp chất phenolic Hợp chất phenolic là một nhóm gồm các chất thứ cấp từ thực vật tạo ra thông qua các sản phẩm trung gian của con đường trao đổi chất từ acid shikimic, có chứa ít nhất một vòng thơm với một hay nhiều nhóm thế hydroxyl.

Nhóm hợp chất phenolic phân bố rộng rãi trong giới thực vật và có khắp nơi trong tự nhiên. Hiện nay đã biết hơn 8.000 loại hợp chất phenolic từ các nguồn khác nhau trong tự nhiên. Các hợp chất phenolic có thể tồn tại ở dạng aglycon tự do, dạng ester, dạng phức hợp với protein hoặc các dạng khác. Về cấu tạo hoá học, nhóm các hợp chất phenolic có thể được phân thành 2 nhóm chính: nhóm phenol đơn giản và nhóm polyphenol.

Nhóm phenol đơn giản gồm 2 phân nhóm chính là nhóm acid phenolic và nhóm cumarin. Nhóm polyphenol gồm các nhóm flavonoid và nhóm tannin. Các phenolic có hoạt tính đáng quan tâm trong y dược như các hợp chất phenolic đơn giản, tannin, coumarin, flavonoid, glycoside, anthycyanin. khái niệm acid phenolic trong thực vật dùng để chỉ các chất thứ cấp nguồn gốc thực vật có tối thiểu một nhóm carboxyl và một nhóm hydroxyl phenolic.

Gần đây các nhà khoa học phân loại nhóm acid phenolic gồm các dẫn xuất của acid benzoic (C6 – C1) và nhóm acid cinnamic (C6 – C3). Cả hai loại acid phenolic này thường tồn tại trong cây dưới dạng liên kết hoặc ở dạng ester hoá. * Phân nhóm cumarin Cumarin là các dẫn xuất của α – pyrone có cấu trúc C6 – C3, dị vòng chứa oxy. Cumarin là những hợp chất hữu cơ được sinh tổng hợp khá đặc biệt trong cơ thể thực vật.

Curmarin là những chất kết tinh không màu hoặc màu vàng nhạt, vị đắng, một số lớn dễ thăng hoa, có mùi thơm giống mùi thơm của vanilin hay của cỏ mới khô. Về hoá học, cumarin có thể tồn tại trong cây dưới dạng aglycon tan nhiều trong các dung môi kém phân cực và dạng kết hợp với đường glucose tạo thành glycoside dễ tan trong nước. Dưới tác dụng của kiềm, cumarin bị mở vòng (do có vòng lacton) tạo thành muối tan trong nước, nếu acid hoá coumarin sẽ đóng vòng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trở lại. Các dẫn xuất của coumarin có nhóm OH tự do sẽ cho màu xanh với thuốc thử sắt III.

Hiện nay đã biết hơn 1.500 loại khác nhau tồn tại trong tự nhiên trong 800 loài thực vật đã được nhận dạng. Trong cây, coumarin được coi là một trong số các chất “phòng thủ hoá học hữu hiệu” giúp thực vật tránh được những bất lợi do môi trường hay dịch bệnh gây ra. Trong đời sống hằng ngày, coumarin được sử dụng làm nước hoa, hương liệu, bán tổng hợp các chất hoá học khác nhau đặc biệt là chất chống đông máu và chất diệt loài gặm nhấm. Trong y học, tác dụng đáng chú ý của cumarin là tác dụng chống co thắt, làm giãn động mạch vành, làm bền và bảo vệ thành mạch.

Nhiều chất cumarin có tính kháng khuẩn, kháng nấm, kháng viêm, kháng khối u, trừ giun sán, giảm đau và hạ nhiệt [7], [24].1 Coumarin * Phân nhóm Flavonoid Flavonoid là những hợp chất tạo ra màu của hoa, quả, đôi khi của lá. Flavon có màu vàng, anthocyan có màu tím (trong môi trường trung tính) hoặc màu đỏ (trong môi trường acid), hoặc có màu xanh (trong môi trường kiềm) và không màu ( isoflavin, catechin). Flavonol là một trong những nhóm hợp chất phenolic hay gặp trong tự nhiên. Trong cây flavonol thường tồn tại dưới 2 dạng: dạng tự do là các aglycol tan nhiều trong các dung môi hữu cơ và hầu như không tan trong nước và dạng glycoside liên kết với đường tan nhiều trong nước và hầu như không tan trong các dung môi hữu cơ.

Khi thuỷ phân các flavonoid bằng acid hoặc enzym thì chúng sẽ phân tách thành các phần aglycon và phần đường tương ứng. Một đặc điểm quan trọng của flavonoid là khả năng hấp thụ tử ngoại. Flavonoid có hai dải sóng hấp thụ ở bước sóng 290nm và 220 nm. Phụ thuộc vào nhóm hydroxyl và các nhóm chức khác mà vị trí các bước sóng và cường độ hấp thụ ở mỗi dải sẽ thay đổi.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về hoá học, khung carbon của flavonoid là C6 -C3-C6, gồm 15 nguyên tử carbon, hai vòng benzen (A và B)nối nhâu qua vòng pyren (C) [18], [24]. Hiện nay có khoảng hơn 4500 các loại flavonoid khác nhau tồn tại trong thực vật đã được nhận dạng. Trong cây, flavonoid giữ rất nhiều vai trò mang chức năng sinh lý, sinh thái có ý nghĩa sống còn như: điều chỉnh sự phân bố năng lượng ánh sáng ở lá cây (flavonol, anthocyane), làm tăng hiệu quả quang hợp, bảo vệ cây tránh được những bức xạ sóng ngắn, có tính kháng khuẩn, kháng nấm, giúp cây chống được bệnh tật… Trong y học, Flavonoid được sử dụng làm thuốc để chữa chị nhiều loại bệnh khác nhau như: thuốc làm bền thành mạch, thuốc chống oxy hoá, thuốc kháng viêm, chống nấm, chống dị ứng, chống ung thư…[7, 24, 29, 30, 33]. * Phân nhóm tannin Tannin là những hợp chất phenolic phổ biến trong thực vật bậc cao.

Về hoá học, tannin được cấu tạo dựa trên acid tannic và acid gallic, phổ biến trong cây ở dạng tự do hoặc ở dạng glycoside kết hợp với đường. Tannin là những chất vô định hình, màu trắng, màu vàng nhạt hoặc gần như không màu, có hoạt tính quang học, có vị chát, dễ bị oxy hoá khi đun nóng và khi để ngoài ánh sáng, có trọng lượng phân tử từ 5. Tannin tan nhiều trong nước (đặc biệt trong nước nóng), tan tốt trong các dung môi hữu cơ như Ethanol, ete ethylic hầu như không tan trong các dung môi kém phân cực như chloroform , benzen… Tannin tạo phức đặc trưng với các kim loại nặng, tạo phức protein, tinh bột và muối khoáng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về tác dụng sinh học, tannin là chất bảo vệ cho cây trước sự tấn công của vi sinh vật gây bệnh, các động vật và côn trùng ăn [24],[33].

Về tác dụng y học, tannin được sử dụng làm thuốc cầm máu, thuốc chữa đi ngoài, chữa ngộ độc kim loại nặng, thuốc chũa ung thư, chữa trĩ, viêm xoang, viêm miệng, chứng cao huyết áp và đột quỵ. Nhóm các hợp chât alkaloid Alkaloid là những hợp chất chứa nitơ, không những chỉ có ở thực vật mà còn có ở động vật. Nguyên tử nitơ có thể là một phần, hoặc không phải là một phần của hệ thống dị vòng. Chúng có các cấu trúc phân tử phức tạp, có hoạt tính sinh- dược rõ rệt và phân bố hạn chế trong giới thực vật.000 loại alkaloid được phân lập.

Trong cây, alkaloid tồn tại dưới 3 dạng: dạng tự do, dạng muối của các acid phổ biến như citric, lactic, oxalic, acetic, malic… và dạng oxit nitơ. Đa số các alkaloid không có mùi, vị đắng, một số ít có vị cay, ở dạng chất rắn có màu trắng, trừ một vài chất có màu vàng (berberin, plamantin) Về vai trò sinh học, alkaloid được coi là một trong những “ hàng rào phòng thủ hoá học hữu hiệu” bảo vệ cây trước sự tấn công của các vi sinh vật và các loại côn trùng sâu bệnh ăn lá. Về y học, alkaloid được sử dụng rất đa dạng: làm thuốc gây ức chế hoặc kích thích hệ thần kinh trung ương, dùng làm thuốc điều hoà huyết áp chữa loạn nhịp tim, thuốc diệt ký sinh trùng, kháng khuẩn, chống ung thư và nhiều tác dụng khác[7], [24], [33].Tác dụng sinh học của các chất thứ cấp Tác dụng sinh học của các chất thứ cấp từ thực vật rất đa dạng và phong phú. Cho đến nay, cơ chế tác dụng của chúng còn nhiều điểm chưa hoàn toàn sáng tỏ.

Một số tác dụng chính của các chất thứ cấp từ thực vật được tập chung nghiên cứu là tác dụng chống oxy hoá, tác dụng chống viêm, cũng như gần đay là các nghiên cứu về tác dụng chống các tế bào ung thư hay virut HIV. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tác dụng chống oxy hoá Một trong những cơ sở sinh hoá quan trọng để các chất thực vật thứ sinh thể hiện được hoạt tính sinh học của chúng là khả năng kìm hãm các quá trình oxy hoá được sinh ra bởi các gốc tự do hoạt động. Tuy nhiên hoạt tính này thể hiện mạnh hay yếu phụ thuộc vào đăc điểm cấu tạo hoá học của từng chất cụ thể.

Các nghiên cứu tác dụng chống oxy hoá tập trung chủ yếu vào nhóm flavonoid. Do bản chất cấu tạo từ polyphenol nên flavonoid ở trong tế bào thực vật hoặc trong cơ thể người và động vật chịu tác động của các biến đổi oxy hoá - khử, bị oxy hoá từng bước và tồn tại dưới dạng hydroquinon, semiquinon, quinon.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ