MỞ ĐẦU Melanin là một loại sắc tố màu nâu hoặc đen, được tìm thấy trong rất nhiều các sinh vật sống, từ nấm, thực vật đến động vật có vú. Nó có chức năng khác nhau trong tất cả các sinh vật [13]. Ở người, melanin là yếu tố quyết định chính của màu da, màu tóc. Melanin cũng được tìm thấy trong các mô sắc tố nằm bên dưới tròng đen của mắt, tế bào thần kinh và sắc tố mang trong các khu vực của não, chẳng hạn như các locus coeruleus và chất đen [43].
Rối loạn tổng hợp hoặc con đường truyền dẫn melanin được xem là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng tóc bị nhạt màu, nám, tàn nhang, đốm nâu và sạm da. Sự rối loạn sắc tố melanin được gây ra bởi rất nhiều nguyên nhân, bao gồm: yếu tố nội sinh (do di truyền) và yếu tố ngoại sinh (chế độ dinh dưỡng không hợp lý, thường xuyên thức khuya, hút thuốc lá, bị stress, sốc tâm lý, tia UV. Ở thời điểm hiện tại, chưa có một số liệu thống kê cụ thể nào về tỷ lệ bệnh nhân bị bạc tóc sớm, nákm, tàn nhang, sạm da và cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về melanin và cơ chế sinh tổng hợp melanin từ đó tìm ra các phương pháp điều trị [52]. Ngày nay, việc chữa bệnh bằng các dược liệu có nguồn gốc tự nhiên đang được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu.
Từ lâu, nguồn dược liệu có sẵn trong tự nhiên này được dân gian sử dụng làm thuốc điều trị nhiều loại bệnh, chẳng hạn như bệnh tim, hen suyễn, ho, thấp khớp, tiểu đường,. và cho thấy có những kết quả khả quan [3]. Bên cạnh đó, nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, các loại thuốc có nguồn gốc thảo dược ít có tác hại đối với sức khỏe con người, trong khi đó thuốc tổng hợp hóa học lại rất dễ gây các tác dụng phụ không mong muốn [3]. Các nước phương Đông, đặc biệt là Việt Nam, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm quanh năm, do vậy mà hệ thống thực vật tương đối đa dạng và phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển thuốc chữa bệnh từ các loại thảo dược.
Theo kinh nghiệm dân gian, ông cha ta đã biết dùng hà thủ ô để chữa bạc tóc sớm. Hà thủ ô có ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp melanin. Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết hà thủ ô đỏ (Polygonum multiflorum) lên khả năng psinh tổng hợp melanin ở mức độ in vitro và in vivo” với mục đích: Phân tích ảnh hưởng của các dịch chiết hà thủ ô đỏ lên khả năng tăng sinh tổng hợp của melanin trên mô hình tế bào và mô hình phôi cá ngựa vằn. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Lê Thị Liên CHƢƠNG 1.
Mô hình nghiên cứu 1. Mô hình nghiên cứu in vitro trong thử nghiệm trên tế bào. Phương pháp nghiên cứu trong sinh học thực nghiệm cho phép người nghiên cứu sử dụng thành phần, hay bộ phận của một sinh vật (thường ở quy mô tế bào hay vi khuẩn) dưới dạng cô lập được khỏi môi trường thông thường của nó, để có thể nghiên cứu và phân tích chi tiết hơn trước khi thực hiện trên sinh vật sống. Nói cách khác, đây là thử nghiệm thường được gọi là "thí nghiệm trong ống nghiệm" [54].
Viê ̣c các tế bào đô ̣ng vâ ̣t có thể nuôi cấ y , duy trì sự tăng sinh trong các chai , điã ngày càng dễ dàng hơn trong các phòng thí nghiê ̣m đã mở ra hướng đi mới quan trọng trong công cuô ̣c tìm kiế m các hoa ̣t chấ t có vai trò quan tr ọng trong lĩnh vực y học. Có thể thấy được các ưu điểm của mô hình nghiên c ứu này là khả năng tự đô ̣ng hóa cao , rút ngắn được thời gian nghiên cứu và cho phép quan sát tr ực tiếp diễn biế n tra ̣ng thái bê ̣nh lí của tế bào. Đồng thời, nhà nghiên cứu có thể thao tác cùng lúc trên nhiều dòng tế bào khác nhau , nhiề u hơ ̣p chấ t khác nhau với dải nồ ng đô ̣ rô ̣ng. Tuy nhiên, mô hình này có nhươ ̣c điể m là tương tác giữa các tế bào với hợp chấ t chỉ theo mô ̣t chiề u , thiế u đi sự tương tác giữa các tế bào với hê ̣ miễn dich ̣ cũng như của hê ̣ miễn dich ̣ với chấ t thử nghiê ̣m ; điề u kiê ̣n làm viê ̣c phải hoàn toàn vô trùng đòi hỏi ki ̃ thuâ ̣t và kinh nghiê ̣m cao của người làm thí nghiê ̣m , chi phí cho thí nghiê ̣m đắ t tiề n.
Mô hình nghiên cứu in vivo trong thử nghiệm trên cá ngựa vằn. Phương pháp in vivo được dùng để chỉ những thí nghiệm dùng các mô sống hay toàn bộ cơ thể còn sống làm đối tượng thử nghiệm. Các phương pháp in vivo khác với in vitro (thí nghiệm ngoài cơ thể sống, thử nghiệm trong ống nghiệm) và các thí nghiệm trên các mô hay cơ thể đã chết. Thông thường, khi nói đến in vivo, người ta thường nghĩ đến các thí nghiệm, thử nghiệm trên đối tượng là sinh vật sống.
Các thí nghiệm sử dụng động vật hay các thử nghiệm lâm sàng trên người là ví dụ của nghiên cứu in vivo [55]. Mô hiǹ h in vivo có ưu điểm nổi bật là đánh giá được chính xác tác động của thuố c lên có thể sinh vâ ̣t do có đầ y đủ sự tương tác của yế u tố : chấ t thử nghiê ̣m và hê ̣ miễn dich ̣ của đối tượng thử nghiệm. 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Lê Thị Liên Có nhiều loại động vật được sử dụng để xây dựng mô hình in vivo như thỏ , cá, chuô ̣t, gà,. Tuy nhiên, viê ̣c thử nghiê ̣m trên đô ̣ng vâ ̣t vấ p phải vấ n đề về đa ̣o đức sinh ho ̣c, hàng năm có hàng nghìn độn g vâ ̣t bi ̣giế t để phu ̣c vu ̣ cho mu ̣c đić h thí nghiê ̣m của con người.
Thử nghiê ̣m đô ̣c tính trên mô hình in vivo thường tố n nhiề u thời gian và cầ n theo dõi chă ̣t chẽ , thường xuyên của người làm thí nghiê ̣m , cầ n có khu vực thí nghiê ̣m rô ̣ng raĩ , có đầy đủ điều kiện phù hợp với động vật thí nghiệm. Như vâ ̣y , viê ̣c sử du ̣ng bấ t thể kì mô hin ̀ h nào cũng có ưu điể m và nhươ ̣c điể m riêng. Nế u như mô hiǹ h in vitro thể hiê ̣n rõ ưu điể m trong quá trin ̀ h sàng lo ̣ c nhanh với thời gian ngắ n , khả năng tự động hóa cao , sàng lo ̣c đươ ̣c nhiề u chấ t trên quy mô lớn thì mô hiǹ h in vivo lại cho phép đánh giá chính xác tác động của thuốc lên khố i u của cơ thể. Tùy vào mục đích thí nghiệm , người nghiên cứu phải lựa chọn mô hình nuôi cấy phù hợp , tránh lãng phí , đă ̣c biê ̣t là vấ n đề đ ạo đức trong sinh ho ̣c.
Dựa trên mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xây dựng mô hình thử nghiệm trên phôi cá ngựa vằn. Đặc điểm chung Hà thủ ô đỏ tên khoa học là Fallopia multiflora (hay còn gọi là Polygonum multiflorum), thuộc họ Rau răm – Polygonaceae [1, 2]. Cây và củ hà thủ ô đỏ. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Lê Thị Liên Đặc điểm thực vật: Dây leo nhỏ, sống dai, có rễ phình thành củ.
Thân quấn mọc xoắn vào nhau, màu xanh tía. Lá mọc so le, hình tim, có mũi nhọn ở đỉnh, dài 4 – 8 cm, rộng 2,5 – 5 cm. Cuống lá có phủ lông, bẹ chìa mỏng, màu nâu nhạt. Hoa hợp thành chùy ở nách lá hay ở ngọn, có nhiều nhánh.
Hoa nhiều, nhỏ, đường kính 2 mm mọc ở nách các lá bắc ngắn. Bao hoa màu trắng ngà, nhị 8 trong đó có 3 nhị hơi dài. Quả 3 góc nhẵn bóng nằm trong bao hoa mà 3 mảnh ngoài còn lại phát triển thành cánh rộng [2]. Phân bố: Cây mọc hoang ở vùng núi cao các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái.
Bộ phận dùng: Rễ củ tròn hoặc hình thoi, thường có những sống lồi dọc theo củ. Củ dài 6 – 16 cm, chỗ phình thường có đường kính 4 – 8 cm. Có thể gặp những củ dài đến 40 cm, đường kính trên 10 cm. Mặt ngoài màu nâu đỏ, mặt cắt màu hồng, có bột.
Vị hơi đắng chát. Thu hoạch vào mùa thu, đào lấy củ, rửa sạch, cắt bỏ rễ con, cắt nhỏ rồi phơi hoặc sấy khô [2]. Thành phần hóa học: Thành phần tan trong nước của hà thủ ô có các dẫn chất stilben glycosid như rhaponticosid; 2,3,5,4’-tetrahydroxystilben-2-O- β-D-glucosid. Ngoài ra, hà thủ ô đỏ có nhiều tanin như: 3,3’-diOgalloylprocyanidin- B-2, 3-O-gallyol-l-catechin, 3-O-galloyl-l-epicatechin, 3-O-galloyl-procyanidin-B- 1, d-catechin, d-epicatechin và acid gallic.
Trong củ hà thủ ô đỏ có các dẫn chất anthranoid với hàm lượng thấp: acid chrysophanic, emodin, physcion, chrysophanol anthron, emodin-8-O-β Dglucosid. Từ phần tan trong ethyl acetate, một dẫn chất naphtalen với nhóm chức amid cũng được phân lập và xác định cấu trúc với tên là polygonimitin A. Trong thân hà thủ ô đỏ còn có chứa polygoacetophenoside, acid chrysophanic anthron, chrysophanol [2]. Tác dụng hà thủ ô đỏ trong y học Hà thủ ô có rất nhiều công dụng, chẳng hạn như chống oxy hóa, bảo vệ cơ tim ex vivo, giảm xơ cứng động mạch, tăng tạo hồng cầu,.
mà nổi bật trong số đó là hoạt tính chống oxy hóa. Cao dịch chiết hà thủ ô ở phân đoạn ethyl acetate có tác dụng chống oxy hóa mạnh, trong đó có các thành phần như anthraquinon, emodin, 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Lê Thị Liên 2,3,5,4’-tetrahydroxystilben-2- O-β-D-glucosid, acid gallic và catechin được xem là một trong những chất có tác dụng chính. Hà thủ ô chưa chế biến có tác dụng nhuận tràng. Y học cổ truyền dùng hà thủ ô đỏ làm thuốc bổ gan thận, bổ máu, thuốc dùng cho những người có râu tóc bạc sớm, lưng gối đau mỏi, đại tiện huyết, ung nhọt, tràng nhạc, thần kinh suy nhược, sốt rét lâu ngày.
Ngoài ra, hà thủ ô cũng được sử dụng làm thuốc an thần, thuốc cầm mồ hôi, dùng ngoài trị lở ngứa [1, 2]. Một số nghiên cứu trên thế giới về hà thủ ô đỏ.