Chương 1: Giới thiệu Chƣơng này khái quát chung về đề tài nghiên cứu, nêu lên mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Bên cạnh đó, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu là không thể thiếu trong chƣơng này. Chương 2: Cơ sở lý luận Chƣơng 2 trình bày nền tảng lý thuyết, các nghiên cứu trƣớc đây về quản trị lợi nhuận, cũng nhƣ tầm quan trọng của các uy tín, sự am hiểu chuyên sâu của các 123doc 6 công ty kiểm toán. Các nghiên cứu trong chƣơng này đƣợc tổng hợp theo hai khía cạnh để làm nổi bật khe hở nghiên cứu.
Từ đó, chúng ta xác định đƣợc câu hỏi nghiên cứu cho luận văn. Bên cạnh đó, trong chƣơng này sẽ phát triển giả thiết cho hai biến chính đƣợc quan tâm trong bài là biến BIG4 và SPEC. Đồng thời khái quát các nghiên cứu khác để đƣa đến dấu kỳ vọng của các biến kiểm soát. Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Trong chƣơng này sẽ trình cách thức thu thập dữ liệu, xây dựng mô hình nghiên cứu sẽ đƣợc đƣa ra bao gồm việc xây dựng cách đo lƣờng biến độc lập và biến phụ thuộc của mô hình.
Kế đến, bài nghiên cứu trình bày phƣơng pháp nghiên cứu, thống kê mô tả dữ liệu đã thu thập đƣợc. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả từ mô hình hồi quy đã đƣợc kiểm định. Từ đó phân tích kết quả về dấu thực tế với giả thuyết đƣa ra. Đồng thời, trong chƣơng này sẽ thảo luận kết quả nghiên cứu đạt đƣợc.
Chương 5: Kết luận Chƣơng 5 trình bày kết quả nghiên cứu, từ đó đƣa ra các hàm ý đến các đối tƣợng liên quan. Ngoài ra, chƣơng này cũng trình bày các điểm hạn chế của bài nghiên cứu, cũng nhƣ đề xuất định hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai cho đề tài này. 123doc 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Giới thiệu Chƣơng này giới thiệu về quản trị lợi nhuận, uy tín công tuy kiểm toán, từ đó xác định mối quan hệ giữa uy tín công ty kiểm toán và quản trị lợi nhuận. Bên cạnh đó, chƣơng sẽ tiến hành lƣợc khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài này để chỉ ra khe hở nghiên cứu.
Dựa trên khe hở nghiên cứu, luận văn tiếp tục xác định câu hỏi nghiên cứu cho luận văn. Tiếp đến, chƣơng này sẽ phát biểu các giả thuyết nghiên cứu để làm tiền đề cho việc xây dựng phƣơng pháp nghiên cứu nhằm kiểm định thực nghiệm tại Việt Nam. Với kết cấu làm bốn phần bao gồm: thứ nhất, tổng quan về quản trị lợi nhuận và công ty kiểm toán; Tiếp đến, khái quát các nghiên cứu trƣớc đây để tìm đƣợc khe hở nghiên cứu; Thứ ba, từ các nghiên cứu đó đặt câu hỏi nghiên cứu cho bài; sau cùng, dựa vào các nghiên cứu và lý thuyết để xây dựng giả thuyết nghiên cứu.2 Tổng quan về quản trị lợi nhuận 2.1 Khái niệm quản trị lợi nhuận Quản trị lợi nhuận là hành động làm thay đổi lợi nhuận kế toán của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc lợi nhuận mục tiêu thông qua công cụ kế toán. Các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng có các nhận định về quản trị thu nhập nhƣ sau: (1) Quản trị thu nhập là “quá trình cố ý thực hiện các bƣớc trong giới hạn cho phép của nguyên tắc kế toán nhằm đạt đƣợc những mong muốn về báo cáo thu nhập” (Davidson, Stickney và Weil (1987), đƣợc trích dẫn trong Schipper (1989) p.
Việc lựa chọn phƣơng pháp kế toán áp dụng để thực hiện quản trị lợi nhuận luôn nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán. Do đó, hành động quản trị lợi 123doc 8 nhuận là tuân thủ khuôn khổ pháp lý và là sự vận dụng khéo léo, linh hoạt các “khoảng trống” mà chuẩn mực kế toán để lại nhằm “sắp xếp” báo cáo tài chính theo cách thuận lợi nhất cho công ty hay cho chính họ chứ không phải là hành động phi pháp.2 Mục đích và động cơ của quản trị lợi nhuận 2.1 Mục đích Tăng giá cổ phiếu, tối thiểu hóa thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, tạo hình ảnh đẹp đối với nhà đầu tƣ, nâng cao uy tín doanh nghiệp đối với ngƣời gửi tiền (Ngành ngân hàng)… Do vậy, các nhà quản lý thúc đẩy hoạt động quản trị lợi nhuận theo ý muốn chủ quan của họ khi có cơ hội.2 Động cơ Có nhiều động cơ thôi thúc các nhà quản lý thực hiện quản trị lợi nhuận theo ý muốn chủ quan mà các đối tƣợng sử dụng thông tin mà chúng ta khó có thể nhận ra đƣợc. Theo nghiên cứu của Verbruggen, Christaens và Milis (2008) cho rằng có 5 động cơ chính: - Thu lợi ích từ cổ phiếu: các doanh nghiệp quản trị lợi nhuận để gia tăng giá trị thị trƣờng của cổ phiếu từ đó gia tăng thu nhập của các nhà quản lý. - Che dấu thông tin: Việc che dấu thông tin liên quan đến lợi ích cá nhân, che dấu khuyết tật công ty, các khoản thua lỗ kéo dài,… cũng là động cơ cho các nhà quản lý thực hiện quản trị lợi nhuận.
- Tạo hình ảnh cho giám đốc điều hành: một giám đốc điều hành mới luôn có xu hƣớng làm cho thu nhập năm họ tiếp quản giảm so với các năm liền sau đó để chứng tỏ khả năng điều hành của giám đốc. Bên cạnh đó, các giám đốc sắp nghĩ hƣu cũng quản trị lợi nhuận để thực hiện những lợi ích của bản thân. - Các động cơ nội bộ: Để đối phó với các cổ đông bên ngoài, nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra các nhà quản lý cũng thực hiện quản trị lợi nhuận. - Đối phó với chính sách pháp luật: Để đối phó với các chính sách nhƣ điều kiện niêm yết chứng khoán, phát hành thêm cổ phiếu,.cũng dẫn đến hành vi quản trị thu nhập để đáp ứng các quy định trên.3 Thƣớc đo quản trị lợi nhuận Thuật ngữ quản trị lợi nhuận đƣợc sử dụng rất rộng rãi nhƣng đến thời điểm hiện tại vẫn chƣa có một định nghĩa nào đƣợc công nhận là chuẩn nhất và mang tính khoa học nhất, và cũng không có cách đo lƣờng giá trị tuyệt đối cho biến quản trị lợi nhuận này.
Sau đây là hai cách tiếp cận chính về quản trị lợi nhuận.1 Đo lƣờng quản trị lợi nhuận thông qua sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận: Cách thứ nhất của Leuz et al (2003), đo lƣờng sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận bằng cách tính toán tỷ lệ giữa độ lệch chuẩn của lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh chia cho độ lệch chuẩn dòng tiền từ hoạt động kinh doanh. Tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện sự che giấu lợi nhuận càng cao. Nói cách khác, sự trung thực của lợi nhuận càng thấp. Cách tiếp cận này dựa trên ý tƣởng cho rằng các nhà quản trị có xu hƣớng san bằng lợi nhuận qua các kỳ kế toán bởi vì họ cho rằng các nhà đầu tƣ (đặc biệt là nhà đầu tƣ dài hạn) thích sự tăng lợi nhuận một cách ổn định qua các năm.
Gọi T là sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận Cách thứ hai của Barton và Simko (2002), đo lƣờng sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận bằng cách tính toán tỷ lệ giữa tài sản hoạt động thuần chia cho doanh thu thuần. Tỷ lệ này càng nhỏ thì độ trung thực càng cao. T= Cách thứ ba của Penman (2001) để đo lƣờng sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận là tính toán tỷ số giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận sau thuế. Tỷ số này càng nhỏ thì độ trung thực của lợi nhuận càng cao.
123doc 10 Cách thứ 4 theo DeAngelo (1986), dấu hiệu nhận biết các công ty có sử dụng điều chỉnh thu nhập là dựa vào giá trị của các khoản dồn tích tự định, nếu giá trị này # 0 nghĩa là công ty có điều chỉnh thu nhập. TAt = EATt – CFOt DAt = DAt – DA(t-1) EMt = 1 nếu DAt # 0, hoặc EMt = 0 nếu DAt = 0. Trong đó: EAT: Lợi nhuận sau thuế; CFO: dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh; TA: Tổng các khoản dồn tích tự định; DA: Các khoản dồn tích tự định theo chủ ý nhà quản lý; EM: Quản trị lợi nhuận (Earnings Management).2 Đo lƣờng quản trị lợi nhuận thông qua kế toán theo cơ sở dồn tích Kế toán theo cơ sở dồn tích là một trong những nguyên tắc kế toán cơ bản chi phối các phƣơng pháp kế toán khác trong doanh nghiệp. Theo đó, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí đƣợc ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền (Chuẩn mực kế toán số 01, 2002).
Vì việc ghi nhận doanh thu và chi phí có ảnh hƣởng quyết định đến báo cáo lợi nhuận của doanh nghiệp trong một kỳ, cơ sở kế toán dồn tích đƣợc xem là một nguyên tắc chính yếu đối với 123doc 11 việc xác định lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí. Lợi nhuận là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí, từ đó, việc ghi nhận doanh thu và chi phí có tính quyết định đến lợi nhuận báo cáo trong một kỳ nào đó. Chế độ kế toán hiện hành quy định rằng, kế toán doanh nghiệp phải đƣợc thực hiện theo cơ sở dồn tích.
Kế toán theo cơ sở dồn tích mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện quản trị lợi nhuận nhằm đạt đƣợc một mục tiêu nào đó, vì chế độ kế toán cũng đƣa ra nhiều lựa chọn cho mỗi loại giao dịch (đối tƣợng) có liên quan đến ghi nhận doanh thu và chi phí. Vì vậy, ngân hàng quản trị lợi nhuận thông qua việc điều chỉnh chi phí trong kỳ bằng cách dự kiến mức độ tổn thất đối với các khoản nợ. Điển hình cho trƣờng hợp này là dự phòng rủi ro tín dụng, tạo ra thu nhập bất thƣờng từ đó điều chỉnh lợi nhuận. Hầu hết lợi nhuận của các ngân hàng đều bị chi phối mạnh mẽ từ việc trích lập dự phòng rủi ro.
Vấn đề lợi nhuận nghìn tỷ để làm đẹp báo cáo tài chính là khó khăn chung của ngành ngân hàng. Tổng cầu yếu, hàng tồn kho trong doanh nghiệp ngày một nhiều khiến các ngân hàng không thể tăng cƣờng cho vay vì có thể gia tăng tỷ lệ nợ xấu. Nếu trích lập dự phòng đầy đủ các ngân hàng khả năng sẽ không có lãi nhƣ công bố. Vì vậy, bài nghiên cứu này tập trung xem xét quản trị lợi nhuận thông qua dự phòng rủi ro tín dụng.