CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI, BẢO HỘ THƯƠNG MẠI VÀ XUẤT NHẬP KHẨU 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và nội dung tự do hóa thương mại 1. Khái niệm về tự do hoá thương mại Tự do hóa thương mại là một thuật ngữ chung để chỉ quá trình loại bỏ các cản trở đối với thương mại (hàng hóa và dịch vụ).
Mục đích cuối cùng của tự do hóa thương mại là xóa bỏ mọi rào cản đối với thương mại, tức đạt được chế độ thương mại tự do. Khó có thể có được một định nghĩa chuẩn xác về thương mại tự do, bởi vì việc xóa bỏ một cách triệt để tất cả các hạn chế đối với thương mại, không được coi là khả thi mà chỉ là cái đích để vươn tới. Hiện tại, việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động giữa các quốc gia vẫn là mục tiêu điều chỉnh của các chính phủ. Các nhà kinh tế, học giả đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về tự do hóa thương mại: “Tự do hóa thương mại là một quá trình chuyển dịch khỏi các hạn chế bằng hạn ngạch với những tỷ giá hối đoái mất cân bằng đến một hệ thống chỉ sử dụng thuế quan với tỷ giá hối đoái cân bằng” (Anne Krueger và Jagdich Bhagwati (1970), Chủ nghĩa bảo hộ ở các nước đang phát triển, Báo cáo).
“Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng, mềm hóa sự can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế”. Tự do hóa thương mại vừa là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài (Đỗ Đức 17 Bình và Nguyễn Thường Lạng (2008), Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội - 2005). “Tự do hóa thương mại là quá trình dỡ bỏ mọi cản trở đối với hoạt động thương mại, bao gồm việc cắt giảm, tiến tới xóa bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan; xóa bỏ sự phân biệt đối xử; tạo lập môi trường thông thoáng, thuận lợi nhằm thúc đẩy sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế” (Đào Ngọc Tiến (2010), Điều chỉnh cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong xu thế tự do hóa thương mại, Luận án tiến sỹ kinh tế, mã số: 62. Trong khuôn khổ cuốn sách này, tự do hóa thương mại được hiểu: là sự nới lỏng can thiệp của Nhà nước hay Chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế.
Nội dung tự do hóa thương mại Tự do hóa thương mại là sự nới lỏng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực trao đổi, buôn bán quốc tế. Nội dung của tự do hóa thương mại: Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ thương mại với nước ngoài, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các hoạt động thương mại quốc tế cả về bề rộng và bề sâu. Tự do hóa thương mại nhằm thực hiện việc mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi nước cũng như đạt tới điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động nhập khẩu. Kết quả của tự do hóa thương mại là tạo điều kiện mở cửa thị trường nội địa để hàng hóa, công nghệ nước ngoài cũng như những hoạt động dịch vụ quốc tế được xâm nhập dễ dàng vào thị trường nội địa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ ra nước ngoài.
Điều đó có nghĩa là cần phải đạt tới một sự hài hòa giữa tăng trưởng xuất khẩu với nới lỏng nhập khẩu. Tự do hóa thương mại là nhu cầu hai chiều của hầu hết các nền kinh tế thị trường, bao gồm nhu cầu bán hàng hóa, đầu tư ra nước ngoài và nhu cầu mua hàng hóa, nhận vốn đầu tư của nước ngoài. 18 Khi tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, đa phương, các nước đều thực hiện các cam kết tự do hóa thương mại như giảm hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan (giấy phép, hạn ngạch…) để tạo thuận lợi cho trao đổi hàng hóa giữa các nước thành viên. Thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn hướng mục tiêu cắt giảm thuế quan.
Các nước thành viên không được phép tăng thuế lên trên mức trần đã cam kết trong biểu. Công vụ và biện pháp của tự do hóa thương mại Công cụ của tự do hóa thương mại là các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương. Các thỏa thuận thương mại song phương là các FTA, hiệp định đối tác kinh tế (EPA). Thỏa thuận thương mại đa phương trong khuôn khổ của WTO.
Trước đây, các quốc gia tập trung theo hướng tự do hóa thương mại đa phương trong khuôn khổ của WTO. Song có một thực tế là các vòng đàm phán cấp độ toàn cầu, theo hướng đa phương thường kéo dài. Đến vòng đàm phán Đô-ha bế tắc xuất phát từ bất đồng về chính sách thương mại trong nông nghiệp giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ. và kết quả là đàm phán bị hoãn vào năm 2008.
Để tránh gặp bế tắc như trong vòng đàm phán Đô-ha và đẩy nhanh đàm phán và cam kết, các quốc gia có xu hướng đẩy mạnh ký kết các FTA, dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ của các FTA trong những thập niên gần đây. Vai trò của FTA là thúc đẩy thương mại tự do, hợp tác kinh tế và đầu tư. FTA dường như ưu việt hơn WTO nhờ thời gian đàm phán ký kết ngắn, dễ đạt đồng thuận do ít nước tham gia, lĩnh vực FTA bao quát rộng hơn so với WTO. Do đó, nhiều nước đã chuyển hướng trong chính sách tự do hóa thương mại, quay sang tham gia và ký kết các FTA.
Theo thông báo của WTO, từ khi GATT được thành lập cho đến năm 1994, mới có 123 FTA, từ năm 1995 đến nay, đã có hơn 400 FTA được ký kết, có thông báo tới WTO. Những thỏa thuận thương mại trên cơ sở các FTA không chỉ bao hàm các thỏa thuận trao đổi hàng hóa và dịch vụ, xúc tiến đầu tư, mà 19 còn có cả các nội dung, yêu cầu mới chưa có quy định trong khung khổ Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch WTO/GATT. Phạm vi cam kết của các FTA này còn bao gồm những lĩnh vực như: thuận lợi hóa thương mại, hoạt động đầu tư, mua sắm chính phủ, chính sách cạnh tranh, các biện pháp phi thuế quan, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế giải quyết tranh chấp, tiêu chuẩn và hợp chuẩn, lao động, môi trường, thậm chí còn gắn với những vấn đề dân chủ, nhân quyền hay chống khủng bố. Tham gia vào WTO và các FTA, các nước cam kết và thực hiện cắt giảm hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan để thực hiện tự do hóa thương mại, hàng hóa và dòng vốn được lưu chuyển thuận lợi giữa các thành viên.
Đối với các FTA thế hệ mới, mức độ tự do hóa thương mại cao (các nước thành viên thường đàm phán xóa bỏ phần lớn các dòng thuế, các sản phẩm hàng hóa… cơ bản được tự do luân chuyển) và phạm vi cam kết rộng (cam kết mở cửa thị trường sâu rộng cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao và những cam kết về thể chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công.), nhưng cũng rất linh hoạt… Các biện pháp để thực hiện tự do hóa thương mại bao gồm việc điều chỉnh theo chiều hướng nới lỏng dần nhập khẩu với bước đi phù hợp, trên cơ sở các thỏa thuận song phương và đa phương giữa các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong quan hệ thương mại quốc tế. Quá trình tự do hóa gắn liền với các biện pháp có đi có lại trong khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia. Cam kết về tự do thương mại trong các Hiệp định thương mại tự do và Tổ chức Thương mại Thế giới 1. Cam kết về tự do thương mại trong các Hiệp định Thương mại tự do Nội dung trong các FTA đề cập đến, thường bao gồm: Quy định về việc cắt giảm các hàng rào thuế quan và phi thuế quan; Quy định danh mục mặt hàng đưa vào cắt giảm thuế quan (Thông lệ áp dụng 20 chung là 90% thương mại); Quy định lộ trình cắt giảm thuế quan, khoảng thời gian cắt giảm thuế thường được kéo dài không quá 10 năm; Quy định về quy tắc xuất xứ.
- Về thương mại hàng hóa: Các nước thành viên cam kết xóa bỏ 90 - 99,2% số dòng thuế trong lộ trình 7 - 10 năm, xóa bỏ thuế quan ngay khi FTA có hiệu lực 48,5 - 85% số dòng thuế. Liên minh châu Âu (EU) cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế lộ trình 7 năm trong Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho Việt Nam trong các FTA đã được ký kết. - Về đầu tư: Cam kết của các nước thành viên về đầu tư nhằm tạo ra một môi trường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp.
Cam kết của các nước thành viên thường cao hơn cam kết trong WTO. Các lĩnh vực cam kết thuận lợi cho các nhà đầu tư gồm một số dịch vụ chuyên môn, dịch vụ tài chính, dịch vụ viễn thông, dịch vụ vận tải, dịch vụ phân phối. Các nước thành viên cũng đưa ra cam kết về đối xử quốc gia trong lĩnh vực đầu tư, đồng thời thảo luận về nội dung giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước. - Về mua sắm của Chính phủ: Các nước thành viên thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm của Chính phủ (GPA) của WTO.
Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổng thông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu… các thành viên kém phát triển hơn có lộ trình để thực hiện. Các thành viên phát triển hơn cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho các thành viên kém phát triển hơn để thực thi các nghĩa vụ này.