CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) là chủ đề nghiên cứu được nhiều học giả trên thế giới quan tâm trong nhiều năm qua, đặc biệt là các vấn đề trách nhiệm xã hội (TNXH) của ngân hàng. Bởi sự thiếu TNXH của ngân hàng có thể gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, dài lâu cho nền kinh tế và xã hội cũng như sự phát triển bền vững của quốc gia (Scholtens, 2009). Theo số liệu khảo sát của PriceWaterHouse trên toàn cầu năm 2012, hơn 70% lãnh đạo các doanh nghiệp coi thực hiện TNXHDN là yếu tố sống còn cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Ngày nay, các doanh nghiệp tin chắc rằng sự thành công của doanh nghiệp được kết nối trực tiếp từ các lợi ích xã hội mà nó đem lại bởi doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại hay phát triển trong sự cô lập của cộng đồng. Bản chất lợi nhuận có được của doanh nghiệp chính là do sự phát triển của xã hội và cộng đồng (Sharif và Rashid, 2014). Tại Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt nam (NHTM) cũng đã và đang phải chuyển mình mạnh mẽ để theo kịp tiến trình hội nhập. Một trong những yêu cầu của tiến trình đổi mới, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là tăng cường tính minh bạch, tính trách nhiệm đối với xã hội và cộng đồng đầu tư, hướng theo chuẩn của các thông lệ quốc tế.
Trong đó, TNXH của các ngân hàng là một trong những vấn đề mới, đang thu hút sự quan tâm không chỉ của các nhà lãnh đạo ngân hàng, nhà hoạch định chính sách mà còn cả các nhà nghiên cứu, học giả trong và ngoài nước. Mặc dù nghiên cứu TNXHDN không mới trên thế giới và cũng đã có một số nghiên cứu chuyên sâu về TNXH của ngân hàng, song đây vẫn là vấn đề mới ở Việt Nam (Trần, 2014), đặc biệt là nghiên cứu về TNXH của ngân 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hàng hầu như chưa có ở Việt Nam. Hiện nay, một số NHTM đã ban đầu thực hiện một số hoạt động có liên quan đến TNXH, song TNXH chưa được nhận thức một cách đầy đủ và toàn diện bởi các lãnh đạo ngân hàng, chưa có một NHTM nào có báo cáo về thực hiện TNXHDN và được kiểm chứng bởi bên thứ ba. Điều này được thể hiện rõ thông qua các báo cáo thường niên được kiểm toán của các NHTM Việt Nam.
Quan trọng hơn, tác động của TNXH đến kết quả hoạt động kinh doanh và kết quả tài chính của NHTM như thế nào chưa được nghiên cứu và kiểm chứng một cách khoa học, bài bản. Bên cạnh đó, về mặt lý thuyết, đa số các nghiên cứu về tác động của TNXHDN đến kết quả tài chính của ngân hàng chủ yếu được đặt trong bối cảnh tại các quốc gia phát triển mà chưa có nhiều nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển, nơi ngân hàng là đầu tàu, mũi nhọn dẫn dắt các ngành trong nền kinh tế phát triển. Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu kiểm định mối quan hệ này còn đưa ra nhiều kết quả gây tranh cãi do sự đa dạng trong phương pháp nghiên cứu, các biến số và bối cảnh nghiên cứu. Trong khi một số nghiên cứu đưa ra kết quả thuận chiều giữa TNXHDN và kết quả tài chính (Simpson và Kohers 2002, Vollono 2010, Gadioux 2013, Ortas và các cộng sự 2014…), một số nghiên cứu khác đưa ra các quan hệ không thuận chiều và đôi khi lại không chứng minh được mối quan hệ giữa TNXHDN và kết quả kinh doanh hay kết quả tài chính của các NHTM (Fiori và các cộng sự 2007, Cheung và Mak 2010, Soana 2011…).
Do vậy việc kế thừa và phát triển các nghiên cứu trên thế giới để kiểm chứng tác động của TNXHDN đến hiệu quả hoạt động kinh doanh hay kết quả tài chính của các NHTM ở Việt Nam sẽ có đóng góp lớn về mặt lý thuyết và thực tiễn. Trong nghiên cứu này, TNXHDN sẽ được xem xét như là một biến số độc lập, bên cạnh các biến số khác, để đo lường, phân tích và đánh giá mức độ tác động của các biến độc lập đến kết quả tài chính hay hiệu quả hoạt động 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Kết quả tài chính của ngân hàng thương mại là chỉ số quan trọng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Xem xét, đánh giá kết quả tài chính của ngân hàng là căn cứ giúp các nhà quản lý, chủ sở hữu và các nhà đầu tư trong việc phân tích, dự báo và đưa ra các biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản trị ngân hàng, hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả kinh doanh, cũng như tăng lợi nhuận cho NHTM (Orlitzky và các cộng sự, 2003).
Có nhiều nhân tố khác nhau có thể tác động tới kết quả tài chính của NHTM. Các nhân tố này có thể chia làm hai nhóm: (i) nhóm các các nhân tố bên nội tại của ngân hàng (mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, tính thanh khoản, hiệu quả quản lý) và (ii) nhóm các nhân tố bên ngoài, như GDP, lạm phát, lãi suất, chính sách nhà nước, ổn định chính trị…) (Aburime, 2005; Ongore và Kusa, 2013). Frederick (2014) đã chỉ ra rằng, TNXHDN là một mắt xích quan trọng trong việc kết nối các yếu tố tác động từ bên trong, bên ngoài đến kết quả tài chính của ngân hàng. Điều này được khẳng định thêm trong nghiên cứu của Sharif (2014), lợi nhuận của doanh nghiệp có được chính là do sự phát triển của xã hội và cộng đồng.
Bởi vậy, đề tài “Nghiên cứu tác động trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đến kết quả tài chính tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” đã được nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu. Nghiên cứu này sẽ có những đóng góp lớn về khoa học và thực tiễn nhằm bổ khuyết khoảng trống lý luận về TNXH của NHTM, từ đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm thúc đẩy việc thực hiện TNXH của các NHTM Việt Nam theo các thông lệ quốc tế, đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập và phát triển bền vững kinh tế xã hội của Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 1.
Các nhân tố tác động đến thực hiện TNXHDN Có nhiều nhân tố tác động đến thực hiện TNXHDN, trong đó có thể chia làm 2 nhóm nhân tố bao gồm nhóm nhân tố bên trong và nhóm nhân tố bên ngoài tác động đến việc thực hiện TNXHDN (Wayne Visser, 2008; Jones, 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhóm nhân tố bên trong bao gồm chủ sở hữu, nhân viên, người quản lý (Freeman, 1979). Nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm nhưng không giới hạn gồm khách hàng, nhà cung ứng, nhà đầu tư, chính phủ, môi trường, các tổ chức phi chính phủ.(WBDSC, 2001) Nhóm nhân tố bên trong Nhóm nhân tố từ bên trong tác động đến TNXHDN của một quốc gia bao gồm các yếu tố như truyền thống văn hóa, hệ thống chính trị, những ưu tiên về kinh tế xã hội, những hạn chế trong quản lý, đối phó với khủng hoảng và tiếp cận thị trường. Yếu tố truyền thống văn hóa về TNXH thường dựa nhiều vào truyền thống văn hóa bản địa như hoạt động từ thiện, đạo đức kinh doanh và sự gắn kết của cộng đồng.
Truyền thống văn hóa có thể được thực hiện theo cách gần giống với dự định dành cho các loại văn hóa ngân hàng theo đúng vị trí của nó. Do vậy, văn hoá ngân hàng được chứng tỏ là nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa hoạch định chiến lược và TNXHDN (Galbreath, 2009). Do TNXHDN không thể được chia tách khỏi quá trình cải cách chính sách chính trị - xã hội, điều mà thường hướng các hoạt động kinh doanh đến việc hợp nhất các vấn đề đạo đức và xã hội, nên sự cải cách chính trị chính là động lực thúc đẩy và có ảnh hưởng đến các hoạt động TNXHDN. TNXHDN thường được hình thành trực tiếp bởi các ưu tiên về kinh tế - xã hội, mà ở đó các ngân hàng hoạt động và tạo ra các ưu đãi phát triển.
Người ta thường coi TNXHDN là một cách để che lấp những lỗ hổng trong khâu quản lý được gây ra bởi một chính phủ yếu kém, tham nhũng hoặc thiếu nguồn lực để cung cấp các loại dịch vụ xã hội một cách đầy đủ. Các hệ thống kinh doanh trong nước (Edwards, 2004; Matten and Moon, 2004), chính phủ (Moon, 2004) hoặc là các tổ chức phi chính phủ (NGOs) (Campbell, 2007), áp lực của hệ thống xã hội (Burke et al., 1986; Burke and Logsdon, 1996), có một tầm ảnh hưởng quan trọng đối với các sáng kiến TNXHDN của ngân hàng. Tính ổn định ở cấp độ thực hiện là một vấn đề phức tạp hơn, đặc biệt là 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ở các nước đang phát triển với các tiêu chí xã hội mà đôi khi không nhận được sự quan tâm đúng mức (Labuschagne và cộng sự, 2005). Nhà quản lý, nhân viên, hay khách hàng mà có thể gây ảnh hưởng tới quyết định TNXH của một ngân hàng thì coi TNXH như một hành động nhằm đối phó với khủng hoảng.
Có rất nhiều nghiên cứu nhấn mạnh đến trình độ đào tạo của các cấp lãnh đạo ngân hàng, tiểu sử gia đình và những yếu tố cá nhân khác ảnh hưởng đến quyết định TNXHDN. Về bản chất, thái độ của nhà quản lý đối với các vấn đề kinh tế và xã hội có thể ảnh hưởng đến nền văn hóa và triết lý của tổ chức. Vì thế, cần nhấn mạnh rằng thái độ của nhà lãnh đạo ngân hàng đối với việc tham gia TNXH là một trong những yếu tố quyết định trước tiên của sáng kiến TNXH của ngân hàng. Về mặt thực tiễn, một số các lãnh đạo cấp cao đã nhất trí với các tổ chức trong nỗ lực nhằm làm giảm số lượng nhân viên nghỉ việc, bằng cách dành cho họ một mức lương thỏa đáng, cơ hội rộng mở để phát triển nghề nghiệp và bảo đảm đáp ứng các điều kiện lao động tốt (Md.
Nhân viên cũng góp phần trong việc thúc đẩy ngân hàng thực hiện TNXHDN (Aguilera và cộng sự, 2007). Nếu ngân hàng ở các nước đang phát triển cố gắng tiếp cận thị trường ở các nước phát triển, họ cam kết sử dụng TNXHDN để nâng cao uy tín và niềm tin từ khách hàng. Bên cạnh các nhân tố từ bên trong này, những nhân tố khác như quy mô doanh nghiệp, vị trí. cũng được xem xét tới (L.