Luận văn thạc sĩ tác động của chương trình tín dụng ưu đãi ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại huyện tân trụ tỉnh long an

Luận văn thạc sĩ phân tích tác động của chương trình tín dụng ưu đãi ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại huyện Tân Trụ, Long An.

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2016

86
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.1.1. Mục tiêu chung

1.1.2. Mục tiêu cụ thể

1.2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.3.3. Phương pháp nghiên cứu

1.4. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.1. Khái niệm nghèo

2.2. Vòng xoáy nghèo đói

2.3. Tín dụng ngân hàng chính sách xã hội

2.4. Đánh giá tác động của chính sách

2.4.1. Khái niệm

2.4.2. Các nguyên tắc đánh giá các chính sách

2.4.3. Các phương pháp đánh giá

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Bảng câu hỏi phỏng vấn

Phụ lục 2. Kết quả phân tích số liệu phỏng vấn năm 2015

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo Long An

Tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc hỗ trợ hộ nghèo tại tỉnh Long An. Chương trình này không chỉ giúp cải thiện thu nhập mà còn tạo điều kiện cho hộ nghèo tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Theo báo cáo của NHCSXH, tỷ lệ hộ nghèo tại Long An đã giảm đáng kể nhờ vào các chương trình tín dụng ưu đãi. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết để đảm bảo tính bền vững của chương trình.

1.1. Tín dụng ưu đãi và vai trò của NHCSXH tại Long An

NHCSXH được thành lập nhằm cung cấp tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, giúp họ có cơ hội phát triển kinh tế. Chương trình này đã giúp hàng triệu hộ gia đình tiếp cận vốn vay với lãi suất thấp, từ đó cải thiện đời sống và giảm nghèo bền vững.

1.2. Tình hình hộ nghèo tại Long An và nhu cầu tín dụng

Tỉnh Long An hiện có tỷ lệ hộ nghèo tương đối cao, đặc biệt là ở các huyện như Tân Trụ. Nhu cầu tín dụng ưu đãi là rất lớn, giúp hộ nghèo có thể đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và cải thiện điều kiện sống.

II. Vấn đề và thách thức trong việc tiếp cận tín dụng ưu đãi

Mặc dù chương trình tín dụng ưu đãi đã mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là việc tiếp cận tín dụng của hộ nghèo còn hạn chế. Nhiều hộ gia đình không đủ điều kiện vay vốn do thiếu tài sản thế chấp hoặc không có thông tin đầy đủ về chương trình.

2.1. Rào cản trong việc tiếp cận tín dụng

Nhiều hộ nghèo gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng do thiếu hiểu biết về quy trình vay vốn và các yêu cầu cần thiết. Điều này dẫn đến việc họ không thể tận dụng được các cơ hội từ chương trình tín dụng ưu đãi.

2.2. Tác động của chính sách tín dụng đến hộ nghèo

Chính sách tín dụng ưu đãi có thể tạo ra những tác động tích cực, nhưng nếu không được quản lý tốt, nó có thể dẫn đến tình trạng nợ nần chồng chất cho hộ nghèo. Việc sử dụng vốn vay không hiệu quả có thể làm cho tình trạng nghèo đói trở nên trầm trọng hơn.

III. Phương pháp giải quyết vấn đề tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo

Để nâng cao hiệu quả của chương trình tín dụng ưu đãi, cần có những giải pháp cụ thể. Việc cải thiện quy trình vay vốn, tăng cường giáo dục tài chính cho hộ nghèo và tạo ra các sản phẩm tín dụng linh hoạt là rất cần thiết.

3.1. Cải thiện quy trình vay vốn

Cần đơn giản hóa quy trình vay vốn để hộ nghèo dễ dàng tiếp cận hơn. Việc giảm bớt các yêu cầu về tài sản thế chấp và thủ tục hành chính sẽ giúp nhiều hộ gia đình có cơ hội vay vốn hơn.

3.2. Tăng cường giáo dục tài chính cho hộ nghèo

Giáo dục tài chính là một yếu tố quan trọng giúp hộ nghèo hiểu rõ hơn về cách sử dụng vốn vay. Các chương trình đào tạo về quản lý tài chính và đầu tư sẽ giúp họ sử dụng vốn hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tín dụng ưu đãi

Nghiên cứu cho thấy rằng tín dụng ưu đãi đã có tác động tích cực đến thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo tại Long An. Nhiều hộ gia đình đã sử dụng vốn vay để đầu tư vào sản xuất, từ đó cải thiện đời sống và giảm nghèo bền vững.

4.1. Tác động đến thu nhập của hộ nghèo

Theo số liệu từ NHCSXH, hộ nghèo sau khi vay vốn đã có sự cải thiện rõ rệt về thu nhập. Nhiều hộ gia đình đã có thể tăng thu nhập từ việc đầu tư vào nông nghiệp và các ngành nghề khác.

4.2. Tác động đến chi tiêu của hộ nghèo

Việc tiếp cận tín dụng ưu đãi đã giúp hộ nghèo có khả năng chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu như giáo dục, y tế và sinh hoạt. Điều này góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

V. Kết luận và tương lai của chương trình tín dụng ưu đãi tại Long An

Chương trình tín dụng ưu đãi của NHCSXH đã chứng minh được hiệu quả trong việc hỗ trợ hộ nghèo tại Long An. Tuy nhiên, để đảm bảo tính bền vững, cần có những cải cách và chính sách hỗ trợ phù hợp hơn trong tương lai.

5.1. Đánh giá hiệu quả chương trình tín dụng

Cần thường xuyên đánh giá hiệu quả của chương trình tín dụng ưu đãi để điều chỉnh kịp thời các chính sách. Việc thu thập dữ liệu và phân tích kết quả sẽ giúp cải thiện chương trình.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, cần mở rộng các sản phẩm tín dụng và cải thiện dịch vụ hỗ trợ cho hộ nghèo. Việc kết hợp với các tổ chức xã hội và doanh nghiệp sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho hộ nghèo.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ tác động của chương trình tín dụng ưu đãi ngân hàng chính sách xã hội đối với hộ nghèo tại huyện tân trụ tỉnh long an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.

Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Khái niệm nghèo Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc.

Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác (UNDP, 2012). Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại.” Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình “Xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam -1995” đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”.

Một cách hiểu khác thì nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là nghèo thu nhập (poverty of income), nghèo tiếp cận (poverty of access), và nghèo sức mạnh (poverty of power). Nghèo thu nhập là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo.

Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia. Nghèo tiếp cận làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng luẩn quẩn đói nghèo. Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách. Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này có thực sự giúp được những người nghèo không? Câu trả lời là “có” chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ.

Điều đó liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh để có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến chính họ hay không. Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (Liên Hợp Quốc, 2012).

Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống (Đặng Nguyên Anh, 2015). Trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận nghèo theo hướng nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận, tức là người nghèo sẽ nằm dưới ngưỡng thu nhập nghèo theo quy định của Chính phủ và thiếu khả năng tiếp cận chính sách, cụ thể ở đây là chính sách vay vốn tại địa phương.

Đặc điểm hộ nghèo Theo Bộ Lao động, Thương binh và xã hội (2015), người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu thốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề, chưa có điều kiện tiếp xúc thị trường. Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc ít lao động trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của đời sống. Vòng xoáy nghèo đói Vòng xoáy nghèo đói được định nghĩa là sự tiếp diễn dường như không kết thúc của nghèo đói.

Là tập hợp những nhân tố, những sự kiện mà nghèo mỗi khi đã xuất hiện thì sẽ tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác trừ khi có một sự can thiệp từ bên ngoài (Bussiness Dictionary). Hình 2-1 mô tả vòng xoáy nghèo đói. Trong đó, người nghèo bị mắc kẹt trong một loạt các tình huống xã hội bất lợi: thu nhập thấp, giáo dục thấp, thiếu thốn nhà ở, sức khỏe yếu kém… Thu nhập thấp làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực như giáo dục, tín dụng, không có đủ lương thực và nước sạch cho sinh hoạt… vì thế không có đủ điều kiện để cải thiện thu nhập, họ rơi vào tình trạng đói nghèo, dẫn đến bệnh tật, suy dinh dưỡng và chết chóc; kết quả là kiệt quệ sức lao động và dẫn đến kinh tế gia đình càng suy giảm hơn, thu nhập càng thấp hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Hình 2-1: Vòng xoáy nghèo đói Nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty Để giúp người nghèo thoát khỏi vòng luẩn quẩn này thì quan trọng nhất là những khoản vay tín dụng, nó giúp người nghèo có vốn để tự sản xuất, nhờ đó đảm bảo tốt hơn những nhu cầu cơ bản như lương thực, nước sạch…Cung cấp thuốc men hoặc dịch vụ khám chữa bệnh cho người nghèo sẽ giúp họ có sức khỏe tốt hơn, khỏe mạnh hơn để làm việc và nuôi sống bản thân, vượt qua khỏi vòng luẩn quẩn của bệnh tật, nợ nần và nghèo đói.

Tín dụng ngân hàng chính sách xã hội Theo Nguyễn Minh Kiều (2008), “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định” Tín dụng chính thức cho người nghèo chủ yếu do NHCSXH thực hiện. NHCSXH được thành lập vào tháng 10/2002 trên cơ sở Ngân hàng Phục vụ người nghèo trước đây và chính thức hoạt động vào năm 2003. Chức năng chủ yếu là thực hiện các chương trình cho vay hộ nghèo, đối tượng chính sách, học sinh sinh viên và các đối tượng được trợ giúp xã hội khác. Nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng này là từ ngân sách Nhà nước, có thể được cấp trực tiếp hoặc thông qua các chương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trình trợ giúp xã hội như: chương trình 135, chương trình 134, chương trình cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn,… Theo đó, vốn trợ cấp của các chương trình này sẽ được giải ngân thông qua NHCSXH thay vì giải ngân trực tiếp như trước đây.

Sau bảy năm thành lập, NHCSXH cũng có vai trò quan trọng trong cung cấp tín dụng cho khu vực nông thôn với lãi suất thấp, đặc biệt là tín dụng cho người nghèo. Đánh giá tác động của chính sách Xem xét ảnh hưởng của ảnh hưởng tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội đến giảm nghèo cũng là đánh giá tác động của chính sách. Khái niệm Theo Jean-Pierre Cling và cộng sự (2012) thì đánh giá tác động chính sách là cách tiếp cận mang tính thực chứng. Đây là việc xem xét và đánh giá các chính sách đã được triển khai dựa vào những số liệu kinh tế vi mô và các kỹ thuật kinh tế lượng.

Đánh giá chính sách bao gồm: Đánh giá nhu cầu: đối tượng mục tiêu là ai, bản chất vấn đề cần giải quyết là gì, chương trình nằm trong khuôn khổ nào, hoạt động can thiệp có vị trí như thế nào? Đánh giá quy trình: chương trình được triển khai thế nào trong thực tế, các dịch vụ đã hứa được cung cấp chưa, dịch vụ có đến được đối tượng mục tiêu không, khách hàng có hài lòng không? Đánh giá tác động: liệu chương trình có tạo ra tác động mong đợi đối với các cá nhân hay đối tượng mục tiêu, các hộ gia đình, các thể chế, các đối tượng thụ hưởng của chương trình? Những tác động này là nhờ chương trình hay nhờ vào các yếu tố khác? Mục tiêu của đánh giá tác động của chính sách là đo lường mức độ thay đổi trong phúc lợi của đối tượng tham gia do chính sách đó mang lại. Các nguyên tắc đánh giá các chính sách Ðể đánh giá tác động của chương trình chúng ta phải loại trừ được các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài chương trình lên đối tượng tham gia chương trình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Có những nguyên tắc đánh giá sau nào?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ