Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị.
Ý nghĩa luận văn - Về mặt lý luận: Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động của các mức thuế suất đến tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển và đang phát triển. Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của các mức thuế đến phát triển kinh tế phù hợp với tình hình thực tế tại các quốc gia phát triển và đang phát triển.” - Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các mức thuế suất đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng để từ đó các nhà quản lý xây dựng, điều chỉnh chính sách thuế thông qua các mức thuế suất phù hợp để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Tổng quan lý thuyết về thuế 2.
Khái niệm về thuế và thuế suất 2. Khái niệm về thuế Thuế là một khoản nộp bắt buộc của các tổ chức và cá nhân cho nhà nước theo luật định. Thuế gắn liền với sự tồn tại của nhà nước. Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, thuế đã thay đổi và phát triển theo sự phát triển của các chức năng của nhà nước.
Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, thuế chỉ đơn thuần là công cụ tạo nguồn thu cho nhà nước; đến nền kinh tế hiện đại, thuế còn tham gia vào quá trình điều tiết nền kinh tế (Tổng cục thuế, 2011).Mác đã chỉ rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế má…” (Mác - Ăng ghen. T2 - NXB Sự thật - Hà Nội - 1962. Trong cuốn từ điển kinh tế của Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên góc độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản" (Tổng cục thuế, 2011). Theo hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy (1993) định nghĩa thuế như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật” Trên giác độ mục đích sử dụng, được định nghĩa: “Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” (Tổng cục thuế, 2011).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Trên giác độ kinh tế học, thì “thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước” (Tổng cục thuế, 2011). “Những khái niệm về thuế nêu trên dựa theo từng giác độ khác nhau, chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế. Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây: - Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp. - Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt.
- Việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. - Các các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định. - Việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung.” (Tổng cục thuế, 2011) “Hệ thống thuế là tập hợp các sắc thuế có mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc bổ sung lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ. Cơ cấu hệ thống thuế là cách tổ chức, sắp xếp của các sắc thuế trong tổng thể hệ thống thuế nhằm thực hiện mục tiêu của Nhà nước.
Nghiên cứu cơ cấu thuế cho phép nhận ra được vị trí, tầm quan trọng của từng sắc thuế trong tổng thể nguồn thu của ngân sách nhà nước” (Tổng cục thuế, 2011) 2. Khái niệm về thuế suất Thuế suất là yếu tố trọng tâm cơ bản hình thành nên một sắc thuế. Thông qua thuế suất, ta hiểu rõ hơn về mục đích, ý nghĩa tác động và mức độ động viên nguồn thu của loại thuế ra sao. Thuế suất là mức thuế phải nộp trên một đơn vị khối lượng chịu thuế (Tổng cục thuế, 2011), gồm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Thuế suất trung bình: là tỷ số giữa tổng số tiền thuế phải trả trên tổng giá trị thu nhập chịu thuế.
- Thuế suất biên: Là doanh thu thuế tăng thêm khi giá trị thu nhập chịu thuế tăng thêm một đơn vị. Phân loại thuế suất: - Thuế suất cố định (thuế tuyệt đối, thuế đơn vị): Được ấn định bằng số tuyệt đối trên cơ sở thuế (ấn định 1 số thu bằng tiền trên 1 đơn vị tính thuế như trọng lượng, khối lượng, diện tích, đơn vị sản phẩm, .) Vd: Thuế môn bài, thuế nhập khẩu ô tô cũ, thuế nhà đất, thuế tài nguyên. - Thuế suất tỷ lệ: Được ấn định bằng tỷ lệ % trên cơ sở thuế nhưng mức thuế suất không thay đổi khi cơ sở thuế thay đổi. VD: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,.
- Thuế suất lũy tiến: Được ấn định bằng tỷ lệ % trên cơ sở thuế nhưng mức thuế suất tăng dần theo sự tăng lên của cơ sở thuế. Có 2 loại: Thuế suất lũy tiến toàn phần và thuế suất lũy tiến từng phần. VD: Thuế thu nhập cá nhân. - Thuế suất lũy thoái: Được ấn định bằng tỷ lệ % trên cơ sở thuế nhưng mức thuế suất giảm dần theo sự tăng lên của cơ sở thuế.
VD: Thuế thu nhập công ty Mỹ. Đặc điểm của Thuế Trong nền kinh tế thị trường, thuế có những đặc điểm cơ bản như sau: - Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền - Luôn gắn liền với quyền lực nhà nước - Luôn gắn liền với thu nhập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế. - Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng 2. Phân loại thuế ❖ Căn cứ vào phương thức đánh thuế: Hệ thống thuế được chia thành hai loại là: - Thuế trực thu: là thuế điều tiết trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, … - Thuế gián thu: là thuế đánh gián tiếp thông qua việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.
Thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng nhưng lại được thu từ các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, gánh nặng thuế có thể được chia sẻ giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.” Căn cứ vào cơ sở tính thuế: Hệ thống thuế được chia thành ba loại: - Thuế thu nhập: “Bao gồm các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được. Thu nhập kiếm được là toàn bộ số tiền và lợi ích vật chất mà một tổ chức, cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế, kể cả các khoản chi tiêu đã bỏ ra để có được thu nhập.
Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng thu nhập, lợi tức cổ phần; và từ các hoạt động đầu tư tài chính khác. do đó, thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần. - Thuế tiêu dùng: “Là loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ khi diễn ra việc mua bán. Trong thực tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Thuế tài sản: “Thuế tài sản có thể được thu trong trường hợp chuyển giao, cho không tài sản (ví dụ như cho, tặng hoặc thừa kế), hoặc dưới hình thức bán (ví dụ như nhượng bán bất động sản hoặc động sản), hoặc trong trường hợp có sự hiện hữu của tài sản (như trường hợp đánh thuế vào các khối tài sản lớn)” (Tổng cục thuế, 2011). Vai trò của thuế Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, vai trò của thuế được thể hiện như sau: - Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước: “Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng.
Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách nhà nước.