Chương 1 - Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2 - Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Trong chương này tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây.
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả sẽ làm rõ mô hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách các biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng. Chương 4 - Nội dung và kết quả nghiên cứu. Trong chương này tác giả phân tích thống kê mô tả, kiểm định tính dừng, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và phân tích hồi quy.
Chương 5 - Kết luận. Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Có vẻ như đã đến lúc, cuộc cạnh tranh giành vị trí có ảnh hưởng quyết định về kinh tế tại các nước Châu Á Thái Bình Dương đang đi đến hồi kết. Nếu thông qua các chỉ số về quan hệ kinh tế, đầu tư và thương mại giữa các quốc gia trong khu vực với hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc, thì cũng có thể có một khái niệm cơ bản về tầm ảnh hưởng của hai cường quốc kinh tế này tại châu Á Thái Bình Dương.
Theo đó, Trung Quốc chiếm ưu thế về thương mại khi đang giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất đặc biệt là đối với các quốc gia xuất khẩu nhỏ. Tuy nhiên Mỹ lại chiếm ưu thế tuyệt đối về đầu tư, khi châu Á Thái Bình Dương là khu vực nhận được nhiều đầu tư nhất của các tập đoàn và doanh nghiệp Mỹ trên khắp thế giới. Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc vào khu vực thì thấp hơn rất nhiều so với mức đầu tư của các doanh nghiệp nước này vào các thị trường trọng điểm như Mỹ hay châu Âu. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, về lâu dài thì tình trạng hiện tại sẽ thay đổi theo hướng tăng ảnh hưởng kinh tế của Mỹ tại các nước này, trong khi ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ giảm đi.
Việc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của các nước nhỏ trong vài năm trở lại đây là kết quả của việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nóng, dẫn đến tăng cường nhập khẩu rất nhiều năng lượng, vật liệu và hàng hóa từ các nước trên thế giới, trong đó các quốc gia ASEAN chiếm một tỷ lệ quan trọng. Ngoài việc xuất khẩu năng lượng và nguyên vật liệu thô sang Trung Quốc thì khá nhiều các nước này cũng điều chỉnh lại xuất khẩu của mình để tận dụng tối đa sự tăng trưởng nóng của kinh tế Trung Quốc. Nó dẫn đến kết quả lượng trao đổi thương mại với Trung Quốc tăng vọt trong một thời gian ngắn. Vì thế, khi mà kinh tế Trung Quốc bắt đầu tăng trưởng chậm lại và nhu cầu nhập khẩu giảm hẳn, thì 9 điều tất yếu là tỷ trọng trao đổi thương mại cũng giảm đi.
Việc một loạt các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines hay Malaysia tăng trưởng chậm hẳn trong năm 2015 là một dẫn chứng, khi hầu hết các nước này rơi vào tình trạng giảm xuất khẩu trầm trọng do bị tác động từ sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc. Nói cách khác, sự tăng vọt trong trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia xuất khẩu nhỏ chỉ mang tính ngắn hạn, và xuất phát từ nhu cầu bộc phát về phát triển của Trung Quốc thay vì một quan hệ kinh tế vững chắc và ổn định lâu dài. So sánh về mức độ đầu tư có quy mô lớn, bài bản và lâu dài tại các nước này, thì rõ ràng Trung Quốc không thể so sánh với Mỹ. Nhưng với một loạt các hiệp định thương mại vừa ký kết trong khu vực, cùng với dự báo trong tương lai châu Á Thái Bình Dương sẽ là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, thì điều này chắc chắn sẽ có sự thay đổi lớn.
Nhưng, quan trọng hơn, điều mà chính phủ Mỹ hướng tới trong mối quan hệ kinh tế không phải là các con số thương mại như Trung Quốc, mà Washington quan tâm đến việc đặt ra luật chơi về kinh tế tại khu vực này, một điều sẽ nâng cao ảnh hưởng về kinh tế của Mỹ tại Châu Á Thái Bình Dương lên mức lớn nhất có thể, đồng thời làm giảm ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc tại khu vực này nhất có thể. Dễ dàng nhận ra điều này khi quan sát các quy định quan trọng nhất mà Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đặt ra. Ngoài việc thúc đẩy hơn nữa quy mô trao đổi thương mại giữa các nước thành viên thì vấn đề quan trọng nhất của TPP là thiết lập một loạt các tiêu chuẩn về sản xuất và thương mại, và các tiêu chuẩn này được đánh giá là ở một mức rất cao mà các doanh nghiệp Trung Quốc khó có thể đạt tới. Điều này có nghĩa, khi TPP đi vào hoạt động, thì các nền kinh tế trong khu vực Thái Bình Dương sẽ vận hành với các tiêu chuẩn cao hơn Trung Quốc rất 10 nhiều, và có tính tương tác tốt hơn với nền kinh tế Mỹ vốn rất phát triển thay vì với nền kinh tế Trung Quốc vẫn được đánh giá là lạc hậu và vẫn sử dụng các tiêu chuẩn tương đối thấp.
Trong bối cảnh đó, hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ - ASEAN diễn ra vào giữa tháng 2.2016 tại Sunnylands (Mỹ) sẽ tạo điều kiện tối đa cho ba nền kinh tế Thái Lan, Indonesia và Philippines gia nhập TPP trong thời gian sớm nhất khi mà các nước này cũng tỏ ý muốn gia nhập. Một khi Thái Lan, Indonesia và Philippines cũng gia nhập TPP, thì câu chuyện ảnh hưởng của Mỹ hay Trung Quốc đối với các quốc gia ở khu vực châu Á Thái Bình Dương lớn hơn cũng sáng tỏ. Trong quá trình nghiên cứu các học thuyết có liên quan, tác giả nhận thấy không có các học thuyết trước tác đông của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc đến các yếu tố vĩ mô của các quốc gia châu Á Thái Bình Dương. Lý do là việc nghiên cứu tầm ảnh hưởng của quốc gia này đến quốc gia khác trong điều kiện nền kinh tế thế giới không ngừng mở rộng là một đề tài khá mới và chỉ mới được nghiên cứu trong những năm gần đây, khác với các học thuyết tăng trưởng chủ yếu xem xét đến các yếu tố trong cùng một quốc gia.
Một số bài nghiên cứu có liên quan cũng không đề cập đến các học thuyết kinh tế. Do đó, tác giả chủ yếu trình bày các nghiên cứu dưới dạng bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố này ảnh hưởng đến các quốc gia khác. Các bài nghiên cứu trước đây nghiên cứu ảnh hưởng của Mỹ hoặc Trung Quốc ảnh hưởng tới một số quốc gia/khu vực như Úc, New Zealand, OCED, các khu vực trên thế giới trong nhiều giai đoạn. Các nghiên cứu trên thế giới cho ra các kết quả đa chiều vì mẫu dữ liệu và biến số vĩ mô cũng như việc lựa chọn các cú sốc tác động khác nhau.
Malory Greene, Nora Dihel, Przemyslaw Kowalski và Douglas Lippoldt (2006) định lượng tác động của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới. Ước tính dựa 11 trên mô hình cân bằng tổng thể, FTAP. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động khá hạn chế lên các quốc gia thuộc nền kinh tế OECD. Cơ cấu thương mại song phương giữa Trung Quốc và cá nhân của nền kinh tế OECD phản ánh các hình thức khác nhau của lợi thế so sánh cũng như sự khác biệt về cấu trúc của các rào cản thương mại và vị trí địa lý.
Việc Trung Quốc gia nhập WTO cùng các cam kết được dự đoán sẽ dẫn đến các tác động không đồng nhất vào các thành viên OECD. Tác động trực tiếp nhất là hiệu suất xuất khẩu của các nước OECD đã được giao dịch hoặc đầu tư mạnh mẽ ở Trung Quốc nhưng vẫn phải đối mặt rào cản thị trường. Mô hình thương mại quan sát cho thấy rằng tác động có thể quan trọng hơn đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand. Paul Conway (1998), sử dụng mô hình SVAR đối với dữ liệu theo quý từ 1985 tới 1996 nhằm phân tích tác động biến đổi trong kinh tế vĩ mô New Zealand với các cú sốc đầu tư nước ngoài.
Các cú sốc này đã làm thay đổi nền kinh tế của New Zealand, nền kinh tế trở nên cởi mở hơn sau năm 1985, gia tăng việc thuê mướn nhân công lao động và thay đổi chu kỳ kinh tế. Lãi suất thực trong nước phản ứng không rõ trong dài hạn, tuy nhiên sau khi bãi bỏ quy định tài chính vào giữa những năm 1980, lãi suất thực trong nước phản ứng với tác động từ các cú sốc lãi suất toàn cầu. Trong nghiên cứu của Ben Hunt (2010), mô hình kinh tế toàn cầu của IMF (GEM) được sử dụng để ước tính ảnh hưởng khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng của các quốc gia mới nổi châu Á lên Úc. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 25% tăng trưởng của Australia trong thập kỷ qua đã được giải thích từ tăng trưởng của các quốc gia châu Á mới nổi trong giai đoạn nghiên cứu.
Sun (2011) sử dụng phương pháp vector tự hồi quy (VAR) và thấy rằng, trong một thập kỷ qua, những cú sốc từ các quốc gia mới nổi châu Á vượt qua Hoa Kỳ thông qua việc nghiên cứu các yếu tố ngoại sinh quan trọng nhất ảnh hưởng đến 12 chu kỳ kinh tế của Úc. Đối với thời kỳ mẫu toàn bộ 1991-2010, cú sốc 1 phần trăm trong GDP của Mỹ được tìm thấy tác động tới tăng trưởng Úc khoảng 0,4 phần trăm. Ngược lại, những cú sốc từ các nước Châu Á mới nổi có tác động gần như không đáng kể lên tăng trưởng Úc. Kết quả này thay đổi đáng kể khi giới hạn kích thước mẫu để 2000-10.
Một phần trăm cú sốc đối với tăng trưởng của các quốc gia mới nổi châu Á tác động tới tăng trưởng Úc ⅓ phần trăm, trong khi các tác động của các cú sốc của Hoa Kỳ vào Úc không có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, những cú sốc từ các quốc gia này được tìm thấy không có nhiều ảnh hưởng trên chu kỳ kinh tế của New Zealand mặc dù điều này có thể là do xuất khẩu sang Trung Quốc đã tăng tốc nhanh chóng chỉ từ năm 2008.