CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Toàn cầu hóa (TCH) tài chính là một trong những mục tiêu hàng đầu của các quốc gia khi hướng đến tăng trưởng kinh tế (TTKT) bền vững (Ze & cộng sự, 2023). Bởi vì, thông qua TCH tài chính, các dòng tài chính có thể dễ dàng luân chuyển xuyên biên giới, giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ (Nguyễn Thị Cẩm Vân & cộng sự, 2018; Nguyễn Thị Cẩm Vân, 2020). Qua đó, các quốc gia có thể tiếp cận được nguồn vốn quốc tế, thậm chí là tiếp cận được với công nghệ và phương thức quản lý tiên tiến (Bhanumurthy & Kumawat, 2020; Obstfeld & Taylor, 2002).
Vấn đề này đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia có thu nhập trung bình (TNTB) và thấp, bởi vì các quốc gia này thường bị thiếu hụt vốn và công nghệ (Makun, 2021). Thật vậy, thông qua TCH tài chính, các quốc gia TNTB có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến từ các quốc gia phát triển. Đây là những điều kiện thuận lợi để các quốc gia TNTB có thể thúc đẩy TTKT và rút ngắn khoảng cách với các quốc phát triển. Do đó, TCH tài chính có vai trò quan trọng ở các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia TNTB.
Tác động của TCH tài chính đến TTKT có thể được giải thích bởi một số lý thuyết, thường tập trung ở các lý thuyết về TTKT, chẳng hạn như: tăng trưởng cổ điển (Ricardo, 1817; Smith, 1776), tăng trưởng tân cổ điển (Solow, 1956), tăng trưởng nội sinh (Romer, 1990) và tăng trưởng Keynes (Keynes, 1936). Bên cạnh đó, tác động của TCH tài chính đến TTKT có thể bị điều tiết bởi mức độ phát triển tài chính (PTTC) của các quốc gia, vấn đề này đã được gợi mở trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Hall & Jones, 1999) và lý thuyết trung gian tài chính (Allen & Santomero, 1998). Trong thực tế, các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này thường tập trung vào hai hướng chính như sau: (i) phân tích tác động của TCH đến TTKT (như: Dreher, 2006; Konyeaso, 2016; Gygli & cộng sự, 2019; Rao & Vadlamannati, 2009; Suci, 2015; Tran & Nguyen, 2018; Ying, 2014), tồn tại không nhiều nghiên cứu xem xét cụ thể cho TCH tài chính; (ii) phân tích vai trò điều tiết của PTTC trong 1 tác động của TCH tài chính đến TTKT, nhưng hầu hết các nghiên cứu này thường đo lường TCH tài chính và PTTC bằng các chỉ số thành phần riêng lẻ với những hạn chế nhất định (như: Alzaidy & cộng sự, 2017; Baharumshah & cộng sự, 2017; Joo & cộng sự, 2022; Yeboua, 2019), còn thiếu các nghiên cứu xem xét TCH tài chính và PTTC thông qua chỉ số tổng hợp. Một số hạn chế cụ thể trong các nghiên cứu về chủ đề này như sau: - Thứ nhất, các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này thường xem xét tác động của TCH tài chính đến TTKT tại các quốc gia phát triển, mà bỏ qua các quốc gia đang phát triển (Kose & cộng sự, 2006, 2010), ngoại trừ một số nghiên cứu phân tích trên mẫu dữ liệu chung bao gồm cả quốc gia phát triển và đang phát triển (Bogdan & cộng sự, 2014; Lee, 2016; Saidi & Aloui, 2010).
Hơn nữa, các quốc gia đang phát triển còn có thể được phân chia thành các nhóm nhỏ, như: quốc gia TNTB cao, quốc gia TNTB thấp, quốc gia thu nhập thấp. Mỗi nhóm quốc gia này có sự khác nhau nhất định, chẳng hạn: quốc gia TNTB cao có tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người từ 4.845 USD, quốc gia TNTB thấp có GNI bình quân đầu người từ 1.465 USD, quốc gia thu nhập thấp có GNI bình quân đầu người từ 1.135 USD trở xuống (World Bank - WB, 2024). Do vậy, tác động của TCH tài chính đến TTKT giữa các nhóm quốc gia này có thể là khác nhau. Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của tác giả, còn thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm làm rõ sự khác nhau trong tác động của TCH tài chính đến TTKT giữa các nhóm quốc gia này, chẳng hạn như sự khác nhau trong tác động này giữa nhóm quốc gia có TNTB cao và TNTB thấp.
Đây là khoảng trống đáng kể trong các nghiên cứu trước, gây ra khó khăn nhất định cho các quốc gia này trong việc xác định các chính sách nhằm thúc đẩy TCH tài chính gắn với TTKT. - Thứ hai, tác động của TCH tài chính đến TTKT có thể phụ thuộc đáng kể vào mức độ PTTC của các quốc gia, nhận định này đã được gợi mở trong một số nghiên cứu trước, như: Eichengreen (2001), Alfaro và cộng sự (2004), Wei (2006), Prasad và cộng sự (2007), Alzaidy và cộng sự (2017), Anetor (2020), Bhanumurthy và Kumawat (2020), Gupta và cộng sự (2022), Joo và cộng sự (2022). Hơn nữa, Prasad 2 và cộng sự (2007) còn cho rằng quá trình TTKT tại các quốc gia phát triển được hưởng lợi từ TCH tài chính, nhưng tác động này ở các quốc gia TNTB và thấp là không đáng kể, một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do thị trường tài chính tại các quốc gia TNTB và thấp còn nhiều hạn chế, làm giảm khả năng hấp thụ nguồn vốn nước ngoài của các quốc gia này. Mặc dù vậy, theo sự hiểu biết của tác giả, tồn tại không nhiều nghiên cứu trước xem xét vấn đề này thông qua việc phân tích tác động của biến tương tác giữa các chỉ số thành phần của TCH tài chính với PTTC đến TTKT (như: Alzaidy & cộng sự, 2017; Joo & cộng sự, 2022), hoặc xác định ngưỡng của PTTC trong tác động của các chỉ số thành phần đại diện cho TCH tài chính đến TTKT (như: Baharumshah & cộng sự, 2017; Yeboua, 2019).
Có thể thấy rằng, phần lớn các nghiên cứu trước thường đo lường TCH tài chính và PTTC thông qua các chỉ số thành phần riêng lẻ, các chỉ số thành phần này gặp phải hạn chế nhất định trong việc thể hiện bản chất đa chiều của TCH tài chính và PTTC. Đặc biệt, còn thiếu vắng nghiên cứu xem xét vai trò điều tiết của PTTC trong tác động của TCH tài chính đến TTKT, mà trong đó, TCH tài chính và PTTC được xem xét toàn diện thông qua chỉ số tổng hợp. Đây là khoảng trống lớn cần được khám phá. Vấn đề này chưa được làm rõ sẽ kéo theo hạn chế nhất định trong việc xác định các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện vai trò của TCH tài chính đối với TTKT.
- Thứ ba, tại khu vực Châu Á, còn thiếu các nghiên cứu xem xét vai trò điều tiết của PTTC trong tác động của TCH tài chính đến TTKT, đặc biệt là bằng chứng thực nghiệm ở các quốc gia có TNTB. Hơn nữa, một số ý kiến còn cho rằng các nghiên cứu được thực hiện ở khu vực Châu Á thường tập trung vào TCH thương mại hơn là TCH tài chính (Hussain & Haque, 2016; Liyanage, 2016; Thilakaweera, 2012). Trong khi đó, vai trò quan trọng của TCH tài chính đối với TTKT đã được khẳng định trong các nghiên cứu thực nghiệm khi thực hiện ở các khu vực khác, bao gồm các nghiên cứu với mẫu dữ liệu của các quốc gia phát triển (Kose & cộng sự, 2006, 2010), hoặc với mẫu dữ liệu chung của các quốc gia phát triển và đang phát triển (Bogdan & cộng sự, 2014; Lee, 2016; Saidi & Aloui, 2010). Có thể thấy rằng, tác động của TCH tài chính đến TTKT, cũng như vai trò điều tiết của PTTC trong tác động này có thể luôn 3 hiện hữu trong thực tiễn, nhưng chưa được xem xét đầy đủ ở các quốc gia tại khu vực Châu Á, đặc biệt là tại các quốc gia TNTB.
Điều này dẫn đến hạn chế trong việc đánh giá toàn diện tác động của TCH tài chính đến TTKT tại các quốc gia Châu Á, gây khó khăn cho các quốc gia này trong việc xác định các chính sách nhằm thúc đẩy TCH tài chính gắn với TTKT. Nhìn chung, tác động của TCH tài chính đến TTKT là chủ đề nghiên cứu thú vị, đã được nhiều quốc gia và nhà nghiên cứu quan tâm. Mặc dù vậy, chủ đề nghiên cứu này còn một số khoảng trống lớn cần khám khá, đặc biệt là trong việc làm rõ tác động của TCH tài chính đến TTKT tại các quốc gia có TNTB. Theo WB (2024), các quốc gia TNTB bao gồm những quốc gia có TNTB thấp và quốc gia có TNTB cao.
Các quốc gia TNTB thấp có GNI bình quân đầu người từ 1.465 USD, các quốc gia TNTB cao có GNI bình quân đầu người từ 4. Như vậy, đặc điểm chung của các quốc gia này là có mức thu nhập còn hạn chế. Do đó, TCH tài chính trở thành động lực đáng kể trong quá trình thúc đẩy TTKT tại các quốc gia này. 4 70 9000 8000 60 7000 50 6000 40 5000 USD 30 4000 3000 20 2000 10 1000 0 0 GDP bình quân đầu người của các quốc gia thu nhập trung bình cao (USD) GDP bình quân đầu người của các quốc gia thu nhập trung bình thấp (USD) GDP bình quân đầu người của Việt Nam (USD) Toàn cầu hóa tài chính của các quốc gia thu nhập trung bình cao Toàn cầu hóa tài chính của các quốc gia thu nhập trung bình thấp Toàn cầu hóa tài chính của Việt Nam Nguồn: Phân tích của tác giả.1: TCH tài chính, GDP bình quân đầu người trung bình của Việt Nam và các quốc gia TNTB ở Châu Á Tại khu vực Châu Á, TCH tài chính là động lực thúc đẩy TTKT của các quốc gia ở khu vực này, đặc biệt là đối với các quốc gia còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiếp cận vốn và công nghệ, như các quốc gia TNTB.
Thực tiễn cho thấy, mức độ TCH tài chính của các quốc gia TNTB cao và TNTB thấp ở khu vực Châu Á có sự chênh lệch đáng kể, kéo theo đó là sự chênh lệch về GDP bình quân đầu người giữa hai nhóm quốc gia này (Hình 1. Tuy nhiên, xu hướng biến động của TCH tài chính và GDP bình quân đầu người tại hai nhóm quốc gia này có sự tương đồng, có nhiều tín hiệu tích cực trong giai đoạn gần đây. Tại Việt Nam, mức độ TCH tài chính của nước ta thấp hơn mức độ trung bình của các quốc gia TNTB thấp trong giai đoạn 2002-2006. Sau đó, mức độ TCH tài chính của Việt Nam đã gia tăng đáng kể và cao hơn so với mức độ trung bình của các quốc gia TNTB thấp, thậm chí là tiệm cận với 5 mức độ trung bình của các quốc gia TNTB cao trong giai đoạn từ năm 2014 đến nay.