Tổng quan luận án

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (OFDI) đóng vai trò hỗ trợ các quốc gia khai thác trực tiếp lợi thế so sánh về tài nguyên và lao động tại nước tiếp nhận đầu tư, qua đó đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của nước đi đầu tư. Báo cáo Đầu tư Thế giới (WIR, 2016) ghi nhận sự dịch chuyển đáng kể của dòng vốn OFDI toàn cầu: dòng FDI toàn cầu năm 2013 đạt 1.310 tỷ USD, năm 2014 đạt 1.318 tỷ USD và năm 2015 đạt 1.474 tỷ USD. Đáng chú ý, dòng vốn OFDI từ các nước phát triển có xu hướng suy giảm liên tục từ mức 1.128 tỷ USD (năm 2011) xuống 917 tỷ USD (năm 2012), 825 tỷ USD (năm 2013) và 800 tỷ USD (năm 2014), trước khi tăng lên 1.065 tỷ USD vào năm 2015. Ngược lại, tỷ trọng đóng góp dòng vốn OFDI của các nền kinh tế đang phát triển không ngừng tăng lên: từ 23% (năm 2011), 27,2% (năm 2012), 31% (năm 2013) lên 33,7% (năm 2014) với quy mô vốn tăng từ 35 tỷ USD năm 2012 lên 408 tỷ USD năm 2013 và 445 tỷ USD năm 2014.

Tại Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 7%/năm giai đoạn 1990–2010 (theo WDI, 2016) và dòng vốn FDI thu hút vào trong nước đạt 268.236 triệu USD giai đoạn 1988–2014, hoạt động đầu tư ra nước ngoài đã bắt đầu từ cuối thập niên 1980. Quy mô OFDI tăng từ 1 dự án với số vốn 560 nghìn USD năm 1989 lên 9 dự án với 12,17 triệu USD năm 1999, và đạt 109 dự án với vốn đầu tư 1.787,53 triệu USD vào năm 2014. Tuy nhiên, hoạt động OFDI của Việt Nam bộc lộ nhược điểm là biến động không đều giữa các năm, quy mô dự án bình quân nhỏ, các dự án lớn chủ yếu thuộc về doanh nghiệp nhà nước, và kết quả kinh doanh tại nước ngoài còn hạn chế. Dù Chính phủ đã ban hành nhiều khung pháp lý như Nghị định số 22/1999/NĐ-CP, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP, Nghị định số 83/2015/NĐ-CP, Đề án "Thúc đẩy đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài" (2009) và Điều 51 Luật Đầu tư 2014, tốc độ tăng trưởng vốn OFDI vẫn thiếu ổn định (năm 2010 tăng 20,3% so với 2009; năm 2013 tăng 193,7%; nhưng năm 2014 giảm 59% so với 2013).

Khoảng trống nghiên cứu lớn được xác định là: các nghiên cứu trong nước trước đó mới dừng lại ở việc tiếp cận thực trạng quản lý nhà nước, phân tích riêng lẻ từng ngành hoặc khảo sát vi mô tại một số doanh nghiệp, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về các nhân tố tác động thúc đẩy và cản trở dòng vốn OFDI của Việt Nam để làm căn cứ đề xuất hàm ý chính sách.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu chính: Những nhân tố nào tác động tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam?
  • Mục tiêu chung: Phát hiện các nhân tố có tác động thúc đẩy và những nhân tố gây cản trở tới dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy dòng vốn này.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về OFDI và các nhân tố tác động tới OFDI, nhấn mạnh vào nhân tố từ phía nước đi đầu tư.
    2. Thứ hai, nghiên cứu cơ sở thực tiễn các nhân tố tác động OFDI của một số nước (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia) để rút ra bài học kinh nghiệm.
    3. Thứ ba, nghiên cứu các yếu tố có tác động đến OFDI của Việt Nam, xác định rõ nhân tố thúc đẩy và nhân tố cản trở.
    4. Thứ tư, đề xuất các hàm ý chính sách cho Chính phủ để gia tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung phân tích các nhân tố xuất phát từ phía nước đi đầu tư (Việt Nam) tác động đến quy mô dòng vốn OFDI; không đi sâu vào phân tích riêng lẻ các nhân tố của 63 quốc gia tiếp nhận đầu tư của Việt Nam (tính đến hết năm 2014), đồng thời không nghiên cứu sâu về các nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động, hướng đầu tư hay cơ cấu lĩnh vực chi tiết của từng dự án.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1989–2014, tương ứng từ thời điểm Việt Nam phát sinh dự án đầu tư ra nước ngoài đầu tiên đến thời điểm có chuỗi dữ liệu thống kê đầy đủ nhất phục vụ kiểm định mô hình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm luận một hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú từ lý thuyết nền tảng đến các kiểm định thực nghiệm quốc tế và trong nước:

Các công trình lý thuyết về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

  • Giai đoạn trước năm 1960: Các nghiên cứu về sự di chuyển vốn đơn thuần của Iversen (1935); yếu tố địa điểm đầu tư của Southard (1931), Marshall và cộng sự (1936), Barlow (1953), Dunning (1958); quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước ngoài của Plummer (1934); lợi ích tích tụ từ hội nhập ngang và dọc của Penrose (1956), Bye (1958); nguồn lực tài chính của Lund (1944).
  • Lý thuyết lợi thế độc quyền và sở hữu: Hymer (1960, 1968) khẳng định OFDI không chỉ là di chuyển vốn mà là sự chuyển dịch nguồn lực (công nghệ, kỹ năng quản lý) nhằm bù đắp bất lợi tại nước nhận đầu tư thông qua lợi thế sở hữu (O). Magee (1977a, 1977b) nhấn mạnh công nghệ là tài sản biến đổi theo thời gian; các đóng góp kiểm chứng của Johnson (1970), Caves (1971, 1974a, 1974b, 1982), Horst (1972a, 1972b), Lall (1979, 1980a), Swedenborg (1979), Calvet (1980), Pugel (1981), Lall và Siddharthan (1982), Owen (1982), Kumar (1990), Hennart (1986a), Franko (1976).
  • Lý thuyết chu kỳ sản phẩm: Vernon (1966) giải thích động lực tìm kiếm thị trường khi sản phẩm được tiêu chuẩn hóa và cạnh tranh chi phí trong nước gia tăng.
  • Lý thuyết tương tác cạnh tranh và hành vi: Knickerbocker (1973), Graham (1975, 1978), Flower (1976), Balasubramanyam (2000) lý giải chiến lược đi theo đối thủ để giảm thiểu rủi ro độc quyền nhóm; Aharoni (1966) phân tích quá trình ra quyết định đầu tư dưới ảnh hưởng của chi phí thông tin, đàm phán và học tập của doanh nghiệp; Johanson và Vahlne (1977, 1990) cùng các nghiên cứu của Hornell và cộng sự (1973), Nordstrom (1991) xây dựng mô hình hành vi theo tiến trình tích lũy kinh nghiệm và khoảng cách tâm lý/địa lý.
  • Lý thuyết tài chính vĩ mô và tỷ giá hối đoái: Aliber (1970) tiếp cận từ sự không hoàn hảo của thị trường tiền tệ và sức mạnh đồng nội tệ; Froot và Stein (1991), Cushman (1985), Culem (1988), Campa (1993), Kogut và Chang (1996), Rangan (1998), Gorg và Wakelin (2002) chứng minh biến động tỷ giá làm thay đổi chi phí thực của lao động và định giá tài sản khi đầu tư.
  • Lý thuyết kinh tế vĩ mô và chiết trung OLI/IDP: Kojima (1973, 1978, 1982, 1990, 1992), Kojima và Ozawa (1985) phân biệt mô hình OFDI định hướng thương mại của Nhật Bản với mô hình độc quyền nhóm của Mỹ. Dunning (1979, 1993, 2008) tổng hợp khung lý thuyết OLI (Lợi thế sở hữu - O, Lợi thế địa điểm - L, Lợi thế nội vi hóa - I) và mô hình đường phát triển đầu tư (IDP) gồm 5 giai đoạn gắn với trình độ kinh tế quốc gia.

Các công trình thực nghiệm quốc tế

  • Anwar và Mughal (2014) dùng lý thuyết OLI phân tích OFDI của Nga giai đoạn 1999–2013, chỉ ra GDP bình quân và xuất khẩu có tương quan thuận, trong khi thể chế nước nhận đầu tư không tác động đáng kể.
  • Saad, Noor và Nor (2014) nghiên cứu chuỗi thời gian của Malaysia giai đoạn 1981–2011, ghi nhận xuất khẩu, GDP, IFDI tác động tích cực, còn tỷ giá hối đoái, bằng sáng chế và năng suất lao động có hệ số âm.
  • Hua (2014) phân tích dữ liệu bảng của Trung Quốc vào 49 nước Châu Phi (2003–2011), nhấn mạnh vai trò bảo trợ và chính sách ngoại hối của Chính phủ.
  • ZhongminLi (2013) chỉ ra 4 động lực của OFDI Trung Quốc: thiếu hụt tài nguyên, quy mô thị trường, tối thiểu hóa chi phí vận chuyển và tìm kiếm công nghệ.
  • Holbrugge & Kreppel (2012) nghiên cứu 8 tập đoàn tại các nước BRIC (WEG, CVRD, Gazprom, Vneshtorgbank, Reliance, Wipro, Lenovo, Haier), nhận diện vai trò của quy mô thị trường và hỗ trợ từ nhà nước.
  • Apergis, Asteriou và Papathoma (2012) nghiên cứu OFDI Hy Lạp giai đoạn 1997–2008 qua dữ liệu bảng từ IMF, World Bank, Eurostat.
  • Khung phân tích của UNCTAD (2006, 2010) tổng hợp 4 nhóm nhân tố đẩy OFDI: (1) Điều kiện thị trường và thương mại; (2) Chi phí sản xuất; (3) Chính sách của chính phủ; (4) Điều kiện kinh doanh.
  • Các công trình khác: Rasiah, Gammeltoft, Jiang (2010); Marson và Shabudin (2010); Kalotay và Sulstarova (2010); Fung, Garcia-Herrero, Siu (2009); Hill, Jongwanich (2009); Williams (2009); Aminian, Fung, Lin (2007); Hiratsuka (2006); Ariff và Lopez (2006); Banga (2005); Pantelidis và Kyrkilis (2005); Kyrkilis và Pantelidis (2003).

Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

  • Quản lý nhà nước và chính sách: Vũ Thị Minh Ngọc (2016), Nguyễn Hải Đăng (2012), Đinh Trọng Thịnh (2005), Quang Minh (2011).
  • Rào cản và thực trạng doanh nghiệp: Nguyễn Hữu Huy Nhựt (2010) khảo sát 165 doanh nghiệp chỉ ra rào cản lớn nhất là vốn (>50%), năng lực kinh nghiệm (46%) và thiếu thông tin thị trường (36%); Lê Thị Bình (2012) khảo sát hoạt động của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP); Thu Hằng (2011) nghiên cứu dòng lợi nhuận chuyển về nước; Mạnh Phan (2012) phân tích rủi ro ngoại tệ.
  • Nghiên cứu thị trường cụ thể: Phùng Quang Thanh (2016) phân tích OFDI Việt Nam sang Lào, tính toán 1 triệu USD IFDI vào Việt Nam làm tăng 0,0115 triệu USD OFDI sang Lào, và 1% chi ngân sách cho khoa học công nghệ làm tăng 3,32 triệu USD đầu tư sang Lào.

Khoảng trống luận án giải quyết: Các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tiếp cận định tính, phân tích mô tả hoặc tiếp cận đơn lẻ theo địa bàn hẹp (như thị trường Lào) và quản lý nhà nước. Luận án khắc phục khoảng trống này bằng cách xây dựng khung đánh giá tổng thể gồm 4 nhóm nhân tố theo chuẩn UNCTAD, kết hợp phân tích định tính toàn diện, nghiên cứu tình huống điển hình tại 3 tập đoàn lớn (Viettel, Petrovietnam, Hoàng Anh Gia Lai) và tiến hành kiểm định kinh tế lượng chuỗi thời gian nhằm lượng hóa các nhân tố từ phía nước đi đầu tư ảnh hưởng đến quy mô OFDI của Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm: Luận án tổng hợp các định nghĩa của WTO (1996), IMF (1993), UNCTAD (1998), John Dunning (2008) và Điều 51 Luật Đầu tư Việt Nam (Nghị định 83/2015/NĐ-CP), xác định: OFDI là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài để xây dựng mới, mua lại hoặc sáp nhập các cơ sở kinh doanh, trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư đó.
  • Khung lý thuyết: Dựa trên lý thuyết chiết trung OLI và lý thuyết IDP của Dunning, kết hợp mô hình phân loại 4 nhóm nhân tố đẩy của UNCTAD (2006, 2010):
    1. Nhóm điều kiện thị trường và thương mại: Quy mô GDP, tăng trưởng GDP bình quân, kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu, số lượng hiệp định thương mại song phương/đa phương (AFTA, APEC, WTO, RCEP, FTA).
    2. Nhóm chính sách của Chính phủ: Môi trường thể chế pháp lý, các văn bản quy phạm (Nghị định 22/1999/NĐ-CP, Nghị định 78/2006/NĐ-CP, Nghị định 83/2015/NĐ-CP), chính sách ưu đãi thuế, thủ tục hành chính, bảo lãnh tín dụng.
    3. Nhóm chi phí sản xuất: Chi phí nhân công (tiền lương), áp lực khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên (dầu khí, khoáng sản, quỹ đất nông nghiệp), chi phí điện và nhập khẩu nguyên phụ liệu.
    4. Nhóm điều kiện kinh doanh: Áp lực cạnh tranh nội địa từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước (IFDI), trình độ công nghệ, số lượng bằng phát minh sáng chế, hạ tầng thông tin truyền thông (tỷ lệ sử dụng Internet).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án áp dụng kết hợp các phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận vĩ mô và tiếp cận lịch sử:

  1. Phương pháp phân tích định tính: Phân tích lịch sử thể chế, so sánh kinh nghiệm thực tiễn từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản; phân tích thống kê mô tả xu hướng OFDI theo thời gian, hình thức, lĩnh vực, địa bàn và loại hình sở hữu.
  2. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (Case study): Phân tích chuyên sâu 3 tập đoàn đại diện cho các ngành và hình thức sở hữu:
    • Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) – lĩnh vực dịch vụ công nghệ, viễn thông.
    • Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) – lĩnh vực công nghiệp khai thác tài nguyên.
    • Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) – khối doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp, cao su, khoáng sản.
  3. Phương pháp phân tích định lượng:
    • Xây dựng mô hình hồi quy chuỗi thời gian giải thích quy mô vốn đầu tư ra nước ngoài (LnOFDI) giai đoạn 1989–2014.
    • Các biến số trong mô hình:
      • Biến phụ thuộc: $\text{LnOFDI}$ (Logarit tự nhiên của vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài).
      • Biến độc lập: Tỷ lệ xuất khẩu trên GDP ($\text{EX/GDP}$), tỷ lệ nhập khẩu trên GDP ($\text{IM/GDP}$), dòng vốn FDI vào trong nước ($\text{LnIFDI}$), biến số năng lượng/chi phí điện ($\text{LnELECT}$), chính sách thuế ($\text{TAX}$).
    • Kiểm định kỹ thuật kinh tế lượng được thực hiện đầy đủ:
      • Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (Multicollinearity).
      • Kiểm tra phương sai sai số thay đổi (Heteroskedasticity).
      • Kiểm tra hiện tượng tự tương quan (Autocorrelation).
      • Kiểm tra sai số ngẫu nhiên phân bố chuẩn (Normality test).

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Tổng cục Thống kê, Báo cáo Đầu tư Thế giới (UNCTAD-WIR), Chỉ số Phát triển Thế giới (World Bank - WDI), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và tài liệu báo cáo thực tế từ các doanh nghiệp nghiên cứu điển hình.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và các nhân tố tác động tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam từ thập niên 1930 đến năm 2016. Tác giả chỉ rõ các lý thuyết kinh điển như lý thuyết OLI (Dunning), lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm (Vernon), lý thuyết vĩ mô (Kojima) và các nghiên cứu của UNCTAD (2006, 2010), Banga (2005), Saad và cs (2014). Tác giả đúc kết khoảng trống: các công trình ở Việt Nam của Vũ Thị Minh Ngọc (2016), Nguyễn Hải Đăng (2012), Phùng Quang Thanh (2016) chưa lượng hóa được tổng thể các nhân tố đẩy từ phía nước đi đầu tư tác động lên quy mô OFDI của toàn nền kinh tế.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Chương này chuẩn hóa các khái niệm, đặc điểm, hình thức đầu tư (chiều ngang - HI, chiều dọc - VI; doanh nghiệp 100% vốn, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh) và tác động của OFDI đối với nước đi đầu tư. Chương 2 đi sâu phân tích cơ sở thực tiễn tại 4 quốc gia:

  • Trung Quốc: Thúc đẩy OFDI nhờ chính sách "Go Global", tìm kiếm tài nguyên năng lượng và mở rộng quy mô thị trường.
  • Hàn Quốc: Từng bước nới lỏng quản lý ngoại hối, chuyển trọng tâm từ khai thác tài nguyên sang tìm kiếm thị trường và công nghệ cao.
  • Malaysia: Kết hợp chính sách kinh tế mới (NEP), hỗ trợ mạnh từ các quỹ đầu tư công và đẩy mạnh ký kết các hiệp định thương mại song phương/đa phương.
  • Nhật Bản: Dịch chuyển sản xuất ra nước ngoài nhằm ứng phó với chi phí lao động tăng cao và sự tăng giá mạnh của đồng Yên sau năm 1985.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập khung quy trình phân tích gồm các bước: tiếp cận hệ thống, tiếp cận vĩ mô và tiếp cận lịch sử; xây dựng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 1989–2014; quy định cấu trúc phân tích định tính dựa trên 4 nhóm nhân tố UNCTAD; phương pháp nghiên cứu 3 tình huống thực tế; và xây dựng mô hình kinh tế lượng phân tích chuỗi thời gian cùng các kiểm định khuyết tật mô hình (đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi, tự tương quan, kiểm định phân phối chuẩn).

Chương 4: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam và các nhân tố tác động

Chương 4 là chương trọng tâm, phân tích chi tiết dữ liệu thực trạng và kiểm định mô hình tác động:

Tổng quan thực trạng OFDI Việt Nam (1989–2014): Hoạt động OFDI của Việt Nam phân bổ theo 4 nhóm tiêu chí:

  • Theo hình thức: Bao gồm hình thức 100% vốn của nhà đầu tư Việt Nam, liên doanh với đối tác nước ngoài và hợp đồng phân chia sản phẩm/hợp tác kinh doanh.
  • Theo lĩnh vực: Chia thành 3 khu vực lớn:
    • Công nghiệp: Tập trung vào khai thác dầu khí, khai khoáng, năng lượng điện.
    • Nông nghiệp: Tập trung trồng cây cao su, cây công nghiệp, chế biến lâm sản tại Lào và Campuchia.
    • Dịch vụ: Chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, điển hình là viễn thông, tài chính - ngân hàng, bán buôn bán lẻ.
  • Theo địa bàn: Tính đến hết năm 2014, Việt Nam đã đầu tư sang 63 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, Châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số dự án và vốn đăng ký (đặc biệt là Lào và Campuchia), tiếp theo là Châu Mỹ (như Venezuela trong lĩnh vực dầu khí), Châu Phi (Angola, Mozambique, Cameroon, Burundi) và Châu Âu (Nga).
  • Theo chủ thể: Các doanh nghiệp nhà nước (Tập đoàn, Tổng công ty) chiếm ưu thế áp đảo về quy mô vốn đăng ký; khu vực tư nhân gia tăng nhanh về số lượng dự án quy mô vừa và nhỏ.

Bảng tổng hợp diễn biến OFDI của Việt Nam giai đoạn 1989–2014 (theo các mốc số liệu văn bản nêu):

Năm / Giai đoạn Số dự án cấp phép mới Quy mô vốn đăng ký (Triệu USD) Đặc điểm nổi bật được ghi nhận
1989 1 dự án 0,56 Dự án đầu tiên đặt nền móng cho OFDI
1992–1994 Biến động (+2 dự án năm 1993, -2 dự án năm 1994) Quy mô nhỏ Số lượng dự án ít, phân tán
1999 9 dự án 12,17 Bắt đầu tăng sau Nghị định 22/1999/NĐ-CP
2007–2008 Năm 2008 tăng 35 dự án so với 2007 Gia tăng nhanh Tác động từ Luật Đầu tư 2005 & Nghị định 78/2006/NĐ-CP
2009 Giảm 24 dự án so với năm 2008 Bị ảnh hưởng Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008–2009
2010 Gia tăng dự án Tăng 20,3% so với 2009 Phục hồi sau Đề án thúc đẩy OFDI năm 2009
2013 Gia tăng dự án Tăng 193,7% Mở rộng mạnh các dự án viễn thông và năng lượng
2014 109 dự án 1.787,53 (giảm 59% so với 2013) Tổng lũy kế đạt 63 quốc gia và vùng lãnh thổ

Kết quả phân tích định tính và nghiên cứu trường hợp điển hình:

  • Viettel: Thâm nhập thành công thị trường viễn thông tại các nước đang phát triển (Lào, Campuchia, Mozambique, Haiti, Cameroon, Burundi...) nhờ năng lực triển khai hạ tầng mạng lưới sâu rộng và chiến lược giá linh hoạt.
  • Petrovietnam: Tìm kiếm và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia thông qua các dự án thăm dò, khai thác dầu khí tại Nga, Đông Nam Á, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi.
  • Hoàng Anh Gia Lai: Khai thác quỹ đất nông nghiệp, phát triển vùng nguyên liệu cao su, mía đường và chăn nuôi quy mô lớn tại Lào và Campuchia.

Kết quả phân tích định lượng: Mô hình ước lượng các nhân tố tác động đến LnOFDI sau khi vượt qua các kiểm định kỹ thuật (không bị đa cộng tuyến, phương sai sai số đồng nhất, không tự tương quan và sai số ngẫu nhiên phân bố chuẩn) cho thấy:

  • Nhóm nhân tố thúc đẩy có ý nghĩa: Kim ngạch xuất khẩu ($\text{EX/GDP}$), quy mô và tăng trưởng thị trường, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào trong nước ($\text{LnIFDI}$), việc tham gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương, chính sách ưu đãi đầu tư, và áp lực chi phí nguyên vật liệu/an ninh tài nguyên.
  • Nhóm nhân tố không có tác động hoặc gây cản trở: Kim ngạch nhập khẩu ($\text{IM/GDP}$), chính sách thuế doanh nghiệp ($\text{TAX}$), cơ chế tín dụng tài trợ đầu tư và chi phí lao động trong nước.

Chương 5: Hàm ý chính sách về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam

Chương 5 phân tích bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế tác động đến hoạt động đầu tư, từ đó đề xuất 5 nhóm khuyến nghị chính sách cụ thể nhằm nâng cao quy mô và chất lượng dòng vốn OFDI của Việt Nam.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về OFDI, làm rõ các động lực đẩy từ phía nước đi đầu tư trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển.
  • Xây dựng thành công khung phân tích đánh giá các nhân tố tác động đến OFDI của Việt Nam dựa trên 4 nhóm nhân tố chuẩn hóa (thị trường - thương mại, chính sách chính phủ, chi phí sản xuất, điều kiện kinh doanh).
  • Cụ thể hóa hệ thống chỉ tiêu đo lường cho từng nhóm nhân tố: GDP và GDP bình quân (đại diện quy mô thị trường); kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tỷ lệ EX/GDP, IM/GDP, số hiệp định thương mại (điều kiện thương mại); thuế suất và tỷ lệ thuế/lợi nhuận (chính sách thuế); tiền lương (chi phí lao động); trữ lượng dầu khí và kim ngạch nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu (chi phí nguyên liệu).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá bức tranh thực trạng OFDI của Việt Nam từ năm 1989 đến 2014 theo đầy đủ các chiều kích: hình thức, lĩnh vực, địa bàn (63 quốc gia), và chủ thể thực hiện.
  • Chứng minh bằng thực nghiệm: các nhân tố thúc đẩy dòng vốn OFDI của Việt Nam bao gồm: mở rộng xuất khẩu, độ mở thương mại thông qua các hiệp định song phương và đa phương, quy mô tích lũy thị trường, áp lực bổ sung nguyên nhiên vật liệu, chính sách khuyến khích của Chính phủ và sự lan tỏa tích cực từ dòng vốn IFDI vào trong nước.
  • Xác nhận các yếu tố như nhập khẩu, mức thuế suất lợi nhuận doanh nghiệp, chính sách tín dụng hiện hành và chi phí lao động nội địa chưa tạo ra tác động thúc đẩy có ý nghĩa thống kê đối với quy mô OFDI của Việt Nam.

Các hàm ý chính sách được đề xuất

  1. Thúc đẩy mở rộng thị trường hàng hóa ra nước ngoài: Gắn kết hoạt động OFDI với chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, tận dụng các cam kết trong khuôn khổ ASEAN, APEC, WTO, các FTA song phương và đa phương.
  2. Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI: Hoàn thiện mô hình quản lý dự án OFDI, đơn giản hóa thủ tục cấp phép, nâng cao hiệu lực phối hợp liên ngành giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.
  3. Ban hành các chính sách ưu đãi thúc đẩy đầu tư: Xây dựng khung ưu đãi rõ ràng về thuế và cơ chế tiếp cận nguồn ngoại tệ hợp pháp cho các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài.
  4. Thực hiện các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp OFDI: Cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ pháp lý và bảo hộ quyền lợi của nhà đầu tư Việt Nam tại các quốc gia tiếp nhận.
  5. Nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua thu hút IFDI: Thu hút có chọn lọc dòng vốn FDI vào trong nước theo hướng gia tăng hàm lượng công nghệ hiện đại, tạo hiệu ứng lan tỏa kỹ năng quản trị giúp doanh nghiệp nội địa đủ năng lực vươn ra thị trường quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi nghiên cứu tập trung vào các nhân tố từ phía nước đi đầu tư (Việt Nam) tác động đến quy mô vốn OFDI, luận án không đi sâu phân tích toàn diện đặc điểm thể chế, môi trường đầu tư và chính sách thu hút riêng biệt của từng quốc gia trong số 63 nước tiếp nhận đầu tư của Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu chưa lượng hóa các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính, tỷ suất sinh lời hay cơ cấu ngành chi tiết của từng dự án. Chuỗi số liệu thống kê được cập nhật đầy đủ đến thời điểm năm 2014.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng chuỗi số liệu thời gian sau năm 2014; đi sâu phân tích tác động hai chiều giữa nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư; đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời và dòng lợi nhuận chuyển về nước của các dự án OFDI theo từng phân ngành kinh tế cụ thể.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước): Luận án cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật (hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư), xây dựng quy trình giám sát dòng vốn chuyển ra nước ngoài và hoạch định các chương trình xúc tiến đầu tư quốc tế.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế: Là tài liệu học thuật giá trị tham khảo về phương pháp kết hợp phân tích định tính (theo khung UNCTAD), nghiên cứu tình huống điển hình và ước lượng mô hình chuỗi thời gian đối với dòng vốn đầu tư quốc tế.
  • Đối với cộng đồng doanh nghiệp: Cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn từ mô hình đầu tư quốc tế của Viettel, Petrovietnam và Hoàng Anh Gia Lai trong việc lựa chọn thị trường, quản trị rủi ro và thích ứng với điều kiện kinh doanh tại nước sở tại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải quyết câu hỏi nghiên cứu trọng tâm nào?
Luận án tập trung trả lời câu hỏi chính: "Những nhân tố nào tác động tới đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam?", nhằm xác định các yếu tố thúc đẩy và cản trở quy mô dòng vốn OFDI từ góc độ nước đi đầu tư.

2. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những nhân tố nào thúc đẩy hoạt động OFDI của Việt Nam?
Các nhân tố thúc đẩy dòng vốn OFDI của Việt Nam bao gồm: kim ngạch xuất khẩu, quy mô và sự phát triển của thị trường nội địa, các hiệp định hợp tác thương mại song phương và đa phương, dòng vốn FDI chảy vào trong nước (IFDI), chính sách ưu đãi của Nhà nước và nhu cầu tìm kiếm, bảo đảm nguồn nguyên vật liệu.

3. Những yếu tố nào được xác định không có tác động đáng kể đến quy mô OFDI của Việt Nam?
Kết quả phân tích cho thấy kim ngạch nhập khẩu, chính sách thuế đối với lợi nhuận doanh nghiệp, chính sách tín dụng đầu tư và chi phí lao động trong nước không tạo ra tác động rõ rệt tới quy mô dòng vốn OFDI của Việt Nam.

4. Luận án đã lựa chọn những doanh nghiệp nào để nghiên cứu trường hợp điển hình?
Luận án nghiên cứu điển hình tại 3 tập đoàn lớn: Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) trong lĩnh vực dịch vụ công nghệ - viễn thông; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) trong lĩnh vực công nghiệp khai thác tài nguyên dầu khí; và Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đại diện cho khối doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp, cao su và khoáng sản.

5. Giai đoạn 1989–2014, quy mô đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam đã có sự thay đổi như thế nào?
Từ 1 dự án ban đầu với số vốn 560 nghìn USD năm 1989, hoạt động OFDI tăng lên 9 dự án với 12,17 triệu USD năm 1999, và đạt 109 dự án với tổng vốn đầu tư 1.787,53 triệu USD vào năm 2014, mở rộng địa bàn đầu tư sang 63 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Mai đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tập trung vào các nhân tố tác động từ phía nước đi đầu tư. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích định tính theo khung 4 nhóm nhân tố của UNCTAD, nghiên cứu tình huống điển hình tại 3 tập đoàn lớn và kiểm định mô hình hồi quy chuỗi thời gian giai đoạn 1989–2014, công trình đã làm rõ các động lực thúc đẩy cũng như các điểm nghẽn của dòng vốn OFDI Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn quan trọng để tác giả đề xuất 5 nhóm hàm ý chính sách giúp cơ quan quản lý hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia đầu tư quốc tế.