Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của rủi ro thanh khoản đến tỷ suất sinh lợi tại NHTM Chương 3: Rủi ro thanh khoản và tỷ suất sinh lợi tại các NHTM VN Chương 4: Mô hình, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị hạn chế rủi ro thanh khoản nhằm nâng cao tỷ suất sinh lợi tại các NHTM việt nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tổng quan về tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Tỷ suất sinh lợi của NHTM là chỉ tiêu được sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nếu tỷ suất sinh lợi của NHTM nhỏ hơn 0, nghĩa là ngân hàng làm ăn thua lỗ khi kinh doanh.
Nếu tỷ suất sinh lợi lớn hơn 0 tức là ngân hàng làm ăn đạt hiệu quả và có lãi. Tỷ suất sinh lợi càng lớn chứng tỏ ngân hàng làm ăn ngày càng hiệu quả và lãi cao. Nhờ có tỷ suất sinh lợi mà các nhà quản lý có thể đánh giá được tình hình tài chính để từ đó đề xuất các biện pháp để ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn. Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lợi của NHTM Để đo lường tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, cần xem xét mức lãi ròng đạt được sau một kỳ hoạt động trong mối tương quan với nguồn vốn chủ sở hữu, tổng tài sản và khả năng bù đắp chi phí cho những thất thoát xảy ra.
Hai chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lợi thường sử dụng là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return on Asset-ROA) ROA thể hiện hiệu quả của từng đồng vốn đầu tư vào tài sản và khả năng của nhà quản trị trong việc sử dụng các nguồn tài chính và đầu tư vào tài sản sinh lời (Hassan và cộng sự, 2003). Với mỗi ngân hàng, ROA phụ thuộc vào các quyết định chính sách của ngân hàng, liên quan đến nền kinh tế, các giám sát của Chính phủ. Hạn chế của ROA là chỉ tiêu này có thể bị “bóp méo” bởi các hoạt động ngoại bảng của ngân hàng, khi mà lợi nhuận ngoại bảng của ngân hàng được gộp vào lợi nhuận của ngân hàng, trong khi mẫu số lại không tính tới các tài sản ngoại bảng.
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản = x100 Tổng tài sản bình quân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity-ROE) ROE thể hiện khả năng của NHTM trong việc tạo ra lợi nhuận và giá trị tăng thêm cho cổ đông. ROE được coi là một trong những chỉ số toàn diện nhất, đánh giá tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Bởi lẽ, mục tiêu quan trọng của NHTM là tối đa hóa giá trị ròng của ngân hàng, từ đó gia tăng thêm giá trị tài sản cho cổ đông.
ROE chính bằng ROA nhân cho hệ số đòn bẩy tài chính (Tổng tài sản/ Tổng vốn chủ sở hữu), chính vì vậy, về cơ bản, mối quan hệ giữa ROA và ROE biểu diễn sự đánh đổi của ngân hàng giữa rủi ro và lợi nhuận, khi mà hệ số nhân vốn thể hiện hệ số đòn bẩy tài chính, phản ánh rõ nhất mức độ chấp nhận rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất sinh lợi trên VCSH = x100 VCSH bình quân 2. Thanh khoản tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm thanh khoản Tùy theo mỗi quan điểm, mỗi nghiên cứu mà có nhiều định nghĩa về thanh khoản. Trong kinh doanh, thanh khoản được hiểu là khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt trong một thời gian ngắn với chi phí hợp lý.
Tuy nhiên, với ngân hàng, thuật ngữ thanh khoản mang ý nghĩa rộng hơn. Thanh khoản là khả năng của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán tức thời với chi phí và thời gian hợp lý. (Kouch et al, 2014) Theo Fredrick Mwaura Mwangi (2014), thanh khoản là khả năng của ngân hàng đáp ứng cho việc tăng tài sản và nhu cầu tiền mặt, kể cả những nghĩa vụ pháp lý khác với chi phí hợp lý và không xảy ra tổn thất. Thanh khoản đề cập đến khả năng của ngân hàng đáp ứng được các nghĩa vụ, chủ yếu là đối với người gửi tiền.
Theo Trần Huy Hoàng (2011), thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh. Một nguồn vốn được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh; một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Như vậy, một ngân hàng được xem là có tính thanh khoản khi có lượng tài sản có thanh khoản sẵn, hoặc là ngân hàng có khả năng huy động hay đi vay được nguồn vốn thanh khoản hay bán được các tài sản thuộc bên tài sản. Vai trò thanh khoản đối với NHTM Một ngân hàng nếu không đảm bảo được thanh khoản thì có thể dẫn đến nhiều vấn đề gây nên rủi ro lớn.
Trong một số trường hợp, nếu như người gửi tiền đến rút tiền ồ ạt tại ngân hàng, lúc đó ngân hàng buộc phải đi vay hoặc bán tài sản gấp với giá rẻ để huy động được lượng tiền cung ứng cho nhu cầu của khách hàng. Hoặc, ngân hàng không cho vay được, không tìm được nguồn đầu tư trong khi lượng tiền đầu vào lại nhiều và bị ứ đọng. Khi đó, ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi suất huy động cũng như gánh nhiều chi phí khác. Lúc này, ngân hàng đang gặp vấn đề về thanh khoản và lâm vào tình trạng khó khăn.
Nếu như rủi ro này lặp lại nhiều lần có thể gây ra vỡ nợ cho ngân hàng và hàng loạt hậu quả phía sau, gây nên bất ổn về tài chính và gây mất niềm tin của mọi người đối với hệ thống ngân hàng. Do đó, cần đảm bảo tính thanh khoản vì thiếu hụt thanh khoản là một trong các nguyên nhân dẫn đến phá sản ngân hàng, từ đó khẳng định rằng thanh khoản là vấn đề cần được chú trọng và không thể bỏ qua. Rủi ro thanh khoản 2. Khái niệm rủi ro thanh khoản Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2003) cho rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng không có khả năng gia tăng quỹ trong tài sản hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ nợ với chi phí thấp nhất.
Thanh khoản là khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn và chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Thanh khoản ngân hàng là khả năng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Khi tình trạng thiếu thanh khoản kéo dài sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản (Duttweiler , 2011). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Ngân hàng sử dụng các nguồn lực hạn chế như nhận tiền gửi có nghĩa vụ phải trả nợ để cấp tín dụng cho doanh nghiệp và người tiêu dùng từ đó làm phát sinh rủi ro thanh khoản.
Các ngân hàng sẽ chuyển đổi các khoản nơ ̣ (tiền gửi) để cho vay trung và dài hạn (Bonfim và Kim, 2014). “Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá trị thấp” (Nguyễn Văn Tiến, 2010) “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán” (Trần Huy Hoàng, 2011) Diamond và Dybvig (1983) cho thấy sự không phù hợp về kỳ hạn đã dẫn đến rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng. Để giảm bớt sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản và nợ phải trả các ngân hàng có thể nắm giữ các tài sản thanh khoản. Nếu ngân hàng nắm giữ tài sản thanh khoản nhiều thì lợi nhuận sẽ giảm và ngược lại.
Bonfim và Kim (2014), mặc dù ngân hàng có ưu đãi trong việc nắm giữ tài sản thanh khoản (tiền mặt, tài sản ngắn hạn và trái phiếu chính phủ) nhưng khó để đảm bảo an toàn thanh khoản trong quản lý hoạt động kinh doanh ngân hàng 2. Phân loại rủi ro thanh khoản Thanh khoản có thể được phân loại thành hai hình thức: rủi ro thanh khoản tài trợ và rủi ro thanh khoản thị trường. Rủi ro thanh khoản tài trợ là rủi ro mà ngân hàng không thể đáp ứng nghĩa vụ nợ của mình khi đến hạn thanh toán do không thể thanh lý tài sản hoặc thiếu nguồn tài trợ. Rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro mà ngân hàng không thể bù đắp rủi ro do giảm giá trị thị trường của tài sản do thị trường gián đoạn hoặc thị trường không đầy đủ thông tin (Decker, 2000).
Gomes và Khan (2011) đã làm rõ hơn về 2 hình thức rủi ro thanh khoản tài trợ và rủi ro thanh khoản thị trường. Rủi ro thanh khoản tài trợ là sự bất lực để tạo ra quỹ tài trợ nhằm đáp ứng các nghĩa vụ tài chính trong thời gian ngắn. Trạng thái thanh khoản được xác định bởi lượng nắm giữ tiền mặt và các tài sản sẵn có khác, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 cũng như cấu trúc nguồn tài trợ và số lượng, hình thức nợ tiềm tàng. Rủi ro thanh khoản thị trường là khả năng một ngân hàng thực hiện các giao dịch trong thị trường tài chính mà không gây ra một sự chuyển dịch đáng kể trong giá.
Sự tương tác giữa hai loại rủi ro thanh khoản có thể dẫn đến những hậu quả thanh khoản nghiêm trọng, khi rủi ro thanh khoản tài trợ gia tăng sẽ làm giảm tính thanh khoản của thị trường và lần lượt làm suy giảm hơn nữa trong thanh khoản tài trợ. Như vậy, rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thể bán được tài sản với chi phí thấp nhất và thời gian sớm nhất.