Nông thôn mới: Tác động đến đời sống văn hóa tại xã Thụy Văn, Thái Bình

Luận văn phân tích tác động của chương trình Nông thôn mới đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân, qua đó đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Văn Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2014

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tác động của Nông thôn mới đến đời sống văn hóa

Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới (NTM) là một sáng kiến toàn diện, không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội mà còn đặt ra mục tiêu sâu sắc là nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân. Các tác động của Nông thôn mới đến đời sống văn hóa người dân biểu hiện rõ rệt qua việc cải thiện cơ sở hạ tầng, thúc đẩy các hoạt động cộng đồng và từng bước định hình một nếp sống văn minh. Phân tích dựa trên tài liệu nghiên cứu về xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình cho thấy một bức tranh cụ thể về sự chuyển mình này. Trước khi triển khai, đời sống tinh thần còn nhiều hạn chế, thiết chế văn hóa nông thôn xuống cấp, hoạt động cộng đồng thưa thớt. Sau chương trình, diện mạo văn hóa đã thay đổi đáng kể, từ việc xây dựng các trung tâm văn hóa, thể thao đến việc khơi dậy các phong trào toàn dân đoàn kết. Sự thay đổi này không chỉ là về vật chất mà còn là sự nâng cao trong nhận thức, giúp người dân có cơ hội tiếp cận và hưởng thụ các giá trị văn hóa đa dạng hơn, góp phần bảo tồn di sản văn hóa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Quá trình này nhấn mạnh vai trò của cộng đồng như một chủ thể, trực tiếp tham gia, quyết định và thụ hưởng thành quả, tạo ra nền tảng cho sự phát triển văn hóa nông thôn bền vững.

1.1. Mục tiêu và sứ mệnh văn hóa của chương trình NTM

Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, được phê duyệt theo Quyết định số 800/QĐ-TTg, xác định rõ mục tiêu phát triển nông thôn toàn diện. Trong đó, nội dung về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trụ cột quan trọng. Sứ mệnh của chương trình không chỉ dừng lại ở việc "bê tông hóa" đường làng, ngõ xóm mà còn hướng đến việc "làm giàu" tâm hồn người dân. Cụ thể, tiêu chí số 6 về Cơ sở vật chất văn hóa và tiêu chí số 16 về Văn hóa là những minh chứng rõ ràng. Chương trình yêu cầu các địa phương phải hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu hoạt động văn hóa thể thao, từ nhà văn hóa, khu thể thao xã, thôn đến việc thúc đẩy các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao. Mục tiêu này nhằm tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho người dân, từng bước bài trừ hủ tục lạc hậu và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.

1.2. Đời sống văn hóa tinh thần trong bối cảnh nông thôn

Đời sống văn hóa tinh thần tại nông thôn là một phức hợp các hoạt động, giá trị và chuẩn mực chi phối sinh hoạt cộng đồng. Nó bao gồm các sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, các loại hình nghệ thuật dân gian, và cả những quy tắc ứng xử trong gia đình, làng xóm được quy định trong hương ước, quy ước làng xã. Đây là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc và sự gắn kết cộng đồng. Trong bối cảnh hiện đại hóa, đời sống văn hóa này đối mặt với nhiều thách thức. Tuy nhiên, chương trình NTM đã tạo ra một cú hích quan trọng, tác động trực tiếp đến sự thay đổi đời sống tinh thần của người dân. Việc đầu tư vào các thiết chế văn hóa nông thôn không chỉ cung cấp không gian sinh hoạt mà còn là chất xúc tác cho các hoạt động sáng tạo và giao lưu, giúp gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống một cách sống động và thiết thực.

II. Thách thức trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn

Trước khi chương trình Nông thôn mới được triển khai, việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại nhiều địa phương phải đối mặt với không ít thách thức. Tình trạng chung là sự thiếu thốn và xuống cấp của cơ sở vật chất, các hoạt động văn hóa, thể thao còn mang tính tự phát, thiếu tổ chức và không thường xuyên. Nghiên cứu tại xã Thụy Văn cho thấy rõ thực trạng này: "Nhà văn hóa xã đã cũ, đang xuống cấp, quy mô diện tích nhỏ, chưa đủ tiêu chuẩn tối thiểu". Sự yếu kém của các thiết chế văn hóa nông thôn đã trực tiếp làm giảm mức hưởng thụ văn hóa của người dân. Các hoạt động cộng đồng chỉ tập trung vào những dịp lễ, Tết, còn ngày thường không gian sinh hoạt chung gần như không có. Bên cạnh đó, một số hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới hỏi vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến việc xây dựng nếp sống văn minh. Nhận thức của một bộ phận người dân về tầm quan trọng của văn hóa còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào phát triển kinh tế. Đây là rào cản lớn, đòi hỏi chương trình NTM phải có những giải pháp đồng bộ, không chỉ đầu tư vật chất mà còn phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động để thay đổi tư duy, phát huy vai trò của cộng đồng.

2.1. Thực trạng cơ sở vật chất và thiết chế văn hóa nông thôn

Khảo sát tại xã Thụy Văn trước năm 2010 phản ánh một bức tranh điển hình về sự yếu kém của hạ tầng văn hóa. Tài liệu nghiên cứu chỉ rõ: "Các thôn trong xã đã có nhà văn hóa nhưng chưa đạt chuẩn, thiếu nhân sự quản lý và xây dựng quy chế hoạt động hàng tháng". Tương tự, khu thể dục - thể thao của xã cũng chưa đạt chuẩn, sân vận động thiếu diện tích và chưa được quy hoạch đúng. Trường học còn thiếu phòng chức năng, sân chơi chưa được cứng hóa. Hệ thống thiết chế văn hóa nông thôn này không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ngày càng tăng của người dân. Tình trạng này dẫn đến hệ quả là các hoạt động văn hóa, thể thao khó được tổ chức một cách bài bản, quy mô, làm hạn chế sự phát triển của các phong trào quần chúng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi đời sống tinh thần.

2.2. Hạn chế trong hưởng thụ văn hóa và sự tồn tại của hủ tục

Sự thiếu thốn về cơ sở vật chất là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mức hưởng thụ văn hóa của người dân còn thấp. Khi không có sân chơi, bãi tập, nhà văn hóa, các hoạt động cộng đồng trở nên rời rạc. Thanh thiếu niên thiếu không gian vui chơi lành mạnh, dễ sa vào các tệ nạn xã hội. Người cao tuổi thiếu nơi giao lưu, sinh hoạt câu lạc bộ. Đồng thời, đây cũng là môi trường thuận lợi cho một số hủ tục lạc hậu tồn tại dai dẳng. Việc bài trừ hủ tục và xây dựng nếp sống văn minh gặp nhiều khó khăn khi thiếu các hoạt động văn hóa tích cực để thay thế. Chương trình NTM ra đời với mục tiêu giải quyết tận gốc những vấn đề này, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển văn hóa nông thôn bền vững.

III. Cách Nông thôn mới thay đổi diện mạo đời sống văn hóa

Ảnh hưởng của Nông thôn mới đến văn hóa được thể hiện rõ nhất qua việc đầu tư đồng bộ và toàn diện vào hệ thống hạ tầng. Đây là giải pháp nền tảng, tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá cho đời sống tinh thần ở cơ sở. Tại xã Thụy Văn, chương trình đã mang lại một diện mạo hoàn toàn mới. Các công trình như trường học, nhà văn hóa, khu thể thao được xây mới hoặc nâng cấp theo chuẩn quốc gia. Cụ thể, "Trường tiểu học Thụy Văn được xây mới lại hoàn toàn từ tháng 5 năm 2013... Trường THCS được công nhận chuẩn năm 2004". Bên cạnh đó, 100% các thôn đều có nhà văn hóa đạt chuẩn, tạo không gian sinh hoạt cộng đồng khang trang, sạch đẹp. Sự thay đổi về vật chất này đã trở thành đòn bẩy thúc đẩy các hoạt động văn hóa. Người dân có nơi để hội họp, tổ chức văn nghệ, tập luyện thể dục thể thao quần chúng. Nhờ đó, mức hưởng thụ văn hóa được nâng lên rõ rệt. Các câu lạc bộ thơ, dân ca, bóng chuyền hơi... ra đời và hoạt động sôi nổi, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần, tăng cường đoàn kết làng xóm và thúc đẩy phong trào toàn dân đoàn kết.

3.1. Đầu tư đồng bộ vào hệ thống cơ sở vật chất văn hóa

Một trong những thành công lớn nhất của chương trình NTM là việc quy hoạch và đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa nông thôn một cách bài bản. Thay vì xây dựng manh mún, chương trình yêu cầu một sự đầu tư đồng bộ, gắn kết giữa các công trình. Tại Thụy Văn, không chỉ trường học được nâng cấp, mà hệ thống nhà văn hóa thôn cũng được chú trọng. Tài liệu ghi nhận: "Nhà văn hóa thôn 1 Hoành Sơn có diện tích xây dựng là 132m2... hội trường có 130 chỗ ngồi, sân khấu rộng 30m2 có đầy đủ hệ thống âm thanh, ánh sáng". Sự đầu tư này đảm bảo các công trình sau khi hoàn thành có thể phát huy tối đa công năng, phục vụ hiệu quả cho việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân.

3.2. Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho người dân địa phương

Khi cơ sở vật chất được đảm bảo, người dân có thêm nhiều cơ hội để tham gia và sáng tạo văn hóa. Mức hưởng thụ văn hóa không còn bị giới hạn trong phạm vi gia đình hay những dịp lễ hội hiếm hoi. Các nhà văn hóa trở thành trung tâm của hoạt động cộng đồng, nơi diễn ra các buổi nói chuyện chuyên đề, các lớp học năng khiếu, các buổi biểu diễn văn nghệ. Sân thể thao luôn đông đúc người tham gia tập luyện mỗi buổi chiều. Sự thay đổi đời sống tinh thần này là một thành quả quan trọng, giúp người dân giải tỏa căng thẳng sau giờ lao động, tăng cường sức khỏe và xây dựng các mối quan hệ xã hội lành mạnh, góp phần xây dựng con người mới.

IV. Phương pháp thúc đẩy phong trào văn hóa thể thao quần chúng

Chương trình Nông thôn mới không chỉ dừng lại ở việc xây dựng cơ sở vật chất mà còn chú trọng đến việc “thổi hồn” vào các công trình đó thông qua việc phát động các phong trào quần chúng. Đây là phương pháp hiệu quả để biến các thiết chế văn hóa nông thôn thành những không gian sống động, thực sự thuộc về cộng đồng. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được đẩy mạnh, lồng ghép với các tiêu chí xây dựng NTM. Các hoạt động thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh mẽ, thu hút đông đảo người dân ở mọi lứa tuổi tham gia. Song song đó, việc xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước làng xã được xem là một công cụ quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, hình thành nếp sống văn minh. Những quy ước này, được xây dựng trên cơ sở pháp luật và đồng thuận của người dân, giúp bài trừ hủ tục, xóa bỏ các tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Thông qua các phong trào này, vai trò của cộng đồng được đề cao, người dân trở thành chủ thể tích cực trong việc kiến tạo đời sống văn hóa của chính mình.

4.1. Phát triển mạnh mẽ các hoạt động thể dục thể thao quần chúng

Với hệ thống sân bãi được đầu tư mới, phong trào thể dục thể thao quần chúng ở các xã NTM có điều kiện phát triển vượt bậc. Các giải thi đấu bóng đá, bóng chuyền, cầu lông... được tổ chức thường niên từ cấp thôn đến cấp xã, tạo không khí thi đua sôi nổi. Các câu lạc bộ dưỡng sinh của người cao tuổi, các đội văn nghệ của phụ nữ hoạt động đều đặn, góp phần nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần cho người dân. Hoạt động này không chỉ là vui chơi giải trí mà còn là một phần quan trọng trong quá trình xây dựng con người mới, những công dân khỏe mạnh để xây dựng và bảo vệ quê hương.

4.2. Vai trò của hương ước quy ước trong xây dựng nếp sống mới

Hương ước, quy ước làng xã trong thời kỳ mới là sự kết hợp hài hòa giữa luật pháp của nhà nước và lệ làng truyền thống. Nội dung của hương ước tập trung vào việc xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; giữ gìn vệ sinh môi trường và an ninh trật tự. Theo tài liệu, một trong những nội dung của NTM là "Ban hành nội quy, quy ước làng Xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu". Việc thực hiện tốt hương ước đã góp phần quan trọng vào việc ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, và là nền tảng cho sự phát triển văn hóa nông thôn bền vững.

V. Đánh giá ảnh hưởng của Nông thôn mới đến bản sắc văn hóa

Các tác động của Nông thôn mới đến đời sống văn hóa người dân không chỉ là những thay đổi bề nổi mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chương trình đã tạo ra một môi trường thuận lợi để các giá trị văn hóa truyền thống được tái sinh và lan tỏa trong đời sống đương đại. Các lễ hội truyền thống, như Lễ hội đình Giành ở Thụy Văn, được tổ chức quy củ và trang trọng hơn nhờ có sự quan tâm của chính quyền và sự đóng góp của cộng đồng. Các di tích lịch sử văn hóa được tu bổ, tôn tạo, trở thành những địa chỉ giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Nỗ lực bảo tồn di sản văn hóa này đi đôi với việc xây dựng một nếp sống văn minh, hiện đại. Nhận thức của người dân về vệ sinh môi trường, an toàn giao thông, và ứng xử văn hóa nơi công cộng đã được nâng cao rõ rệt. Quá trình này cho thấy NTM không làm mai một bản sắc, mà ngược lại, nó giúp gạn đục khơi trong, phát huy những giá trị tốt đẹp và từng bước bài trừ hủ tục, tạo ra một nền tảng văn hóa vững chắc cho sự phát triển lâu dài.

5.1. Nỗ lực bảo tồn di sản văn hóa và giá trị truyền thống

Việc bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh NTM được thực hiện thông qua nhiều hình thức. Bên cạnh việc trùng tu các di tích vật thể, chương trình còn khuyến khích việc phục dựng và duy trì các hoạt động văn hóa phi vật thể. Các câu lạc bộ hát chèo, ca trù, các đội tế lễ... được thành lập và hỗ trợ hoạt động. Lễ hội làng được trả lại những giá trị cốt lõi, phần lễ được tổ chức trang nghiêm, phần hội với nhiều trò chơi dân gian được khôi phục. Điều này giúp các giá trị văn hóa truyền thống không bị thương mại hóa hay biến tướng, mà thực sự sống trong cộng đồng, củng cố niềm tự hào và tình yêu quê hương cho mỗi người dân.

5.2. Sự chuyển biến trong nhận thức và xây dựng nếp sống văn minh

Một trong những ảnh hưởng của nông thôn mới dễ nhận thấy nhất là sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của người dân. Thông qua các cuộc vận động, các mô hình điểm, người dân đã ý thức hơn về trách nhiệm của mình trong việc xây dựng cộng đồng. Các hoạt động như "Ngày chủ nhật xanh", phân loại rác tại nguồn, trồng cây xanh... đã trở thành thói quen. Nếp sống văn minh còn thể hiện trong việc giao tiếp, ứng xử, trong việc tổ chức các sự kiện của gia đình và cộng đồng một cách tiết kiệm, văn minh, loại bỏ các thủ tục rườm rà. Đây chính là biểu hiện sinh động của việc xây dựng con người mới trong giai đoạn hiện nay.

VI. Giải pháp phát triển văn hóa nông thôn bền vững cho tương lai

Để những thành quả văn hóa mà Nông thôn mới mang lại không chỉ là nhất thời, việc đề ra các giải pháp cho sự phát triển văn hóa nông thôn bền vững là vô cùng cấp thiết. Trọng tâm của các giải pháp này phải là phát huy vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thể sáng tạo, thực hành và thụ hưởng văn hóa. Nhà nước tiếp tục đóng vai trò định hướng, hỗ trợ về cơ chế, chính sách và một phần kinh phí, nhưng sự bền vững phải đến từ nội lực của chính người dân. Cần tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa nông thôn, biến chúng thành những không gian mở, sáng tạo, thu hút mọi tầng lớp nhân dân. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa cơ sở cần được quan tâm để họ có đủ năng lực tổ chức, dẫn dắt các phong trào. Bên cạnh đó, phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển văn hóa và phát triển kinh tế, du lịch để tạo nguồn lực tái đầu tư cho văn hóa. Mục tiêu cuối cùng là hướng tới xây dựng con người mới phát triển toàn diện, có đời sống vật chất ấm no và đời sống tinh thần phong phú, trên nền tảng bản sắc văn hóa dân tộc.

6.1. Tăng cường vai trò của cộng đồng trong duy trì thành quả

Vai trò của cộng đồng là yếu tố quyết định sự thành công lâu dài. Cần xây dựng các mô hình tự quản tại các nhà văn hóa, khu thể thao, trong đó người dân trực tiếp tham gia quản lý, vận hành và bảo dưỡng. Khuyến khích xã hội hóa, huy động sự đóng góp của các cá nhân, doanh nghiệp thành đạt tại địa phương để duy trì và phát triển các hoạt động văn hóa. Khi người dân nhận thấy mình là người chủ thực sự của các công trình và hoạt động văn hóa, họ sẽ có ý thức trách nhiệm cao hơn trong việc gìn giữ và phát huy các thành quả đã đạt được, đảm bảo cho phong trào toàn dân đoàn kết được duy trì.

6.2. Hướng tới mục tiêu xây dựng con người mới một cách toàn diện

Mọi nỗ lực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đều nhằm đến mục tiêu cao cả nhất là xây dựng con người mới. Đó là những con người có tri thức, có sức khỏe, có lối sống văn hóa, yêu quê hương, đất nước và có ý thức công dân cao. Để đạt được mục tiêu này, cần tiếp tục lồng ghép các nội dung giáo dục đạo đức, lối sống, pháp luật vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao. Chú trọng đến thế hệ trẻ, tạo ra nhiều sân chơi bổ ích để định hướng nhân cách và lý tưởng sống cho các em. Đây là sự đầu tư chiến lược, đảm bảo cho sự phát triển văn hóa nông thôn bền vững và sự trường tồn của dân tộc.

04/10/2025
Tác động của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân xã thụy văn huyện thái thụy tỉnh thái bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ XÃ THỤY VĂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH 1. KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020. Để có cơ sở thực tiễn cho chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ đạo 11 xã đại diện cho các vùng kinh tế - văn hoá trên cả nước xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới.

Đồng thời, nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết 26-NQ/TW đề ra, Chính phủ đã có Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 2010-2020. Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng nông thôn mới sẽ được triển khai trên địa bàn cấp xã trong phạm vi cả nước nhằm phát triển nông thôn toàn diện, bao gồm nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở, có những yêu cầu riêng đối với từng vùng sinh thái, vùng kinh tế - xã hội khác nhau. Những nội dung liên quan đến Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng nông thôn mới Khái niệm Nông thôn: Là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã. 13 Đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn 2010-2020 Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; An ninh tốt, quản lý dân chủ; Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao.

Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Ý nghĩa của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới: Bộ tiêu chí cụ thể hóa đặc tính của xã Nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH. Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới. Là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Nguyên tắc xây dựng Nông thôn mới Nội dung xây dựng Nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

14 Xây dựng NTM mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện. Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư. Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành).

Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng nông thôn mới“ do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới. Nội lực của cộng đồng: Công sức, tiền của do người dân và cộng đồng tự bỏ ra để chỉnh trang nơi ở của gia đình mình như: xây dựng, nâng cấp nhà ở; xây dựng đủ 3 công trình vệ sinh; cải tạo, bố trí lại các công trình phục vụ khu chăn nuôi hợp vệ sinh theo chuẩn nông thôn mới; cải tạo lại vườn ao để có thu nhập và cảnh quan đẹp; sửa sang cổng ngõ, tường rào đẹp đẽ, khang trang. Đầu tư cho sản xuất ngoài đồng ruộng hoặc cơ sở sản xuất tiểu thủ công 15 nghiệp, dịch vụ để có thu nhập cao. Đóng góp, xây dựng các công trình công cộng của làng xã như giao thông thôn, xóm; kiên cố hóa kênh mương; vệ sinh công cộng.

Vai trò chủ thể của nông dân: Tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ án quy hoạch NTM cấp xã; Tham gia vào lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với khả năng, điều kiện của địa phương; Quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã; Cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã. ; Tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành. Nội dung Bộ tiêu chí quốc gia Nông thôn mới: Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới gồm 11 mục với 19 tiêu chí đánh giá. Dưới đây là phần trình bày về 11 mục trong Bộ tiêu chí, 19 tiêu chí sẽ được trình bày cụ thể ứng với thực trạng xây dựng Nông thôn mới tại xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong Chương 2 của đề tài.

Quy hoạch xây dựng nông thôn mới Mục tiêu: Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. Nội dung: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. 16 Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã. Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường “Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ”.

Bộ Xây dựng: “Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã. UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, UBND các huyện, thị xã hướng dẫn các xã rà soát, bổ sung và hoàn chỉnh 02 loại quy hoạch trên; đồng thời chỉ đạo thực hiện. UBND xã tổ chức lập quy hoạch, lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư, trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức thực hiện các quy hoạch đã được duyệt. Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội Nội dung: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã.

Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa). Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã. Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn. Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã.

Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn. 17 Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã. Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn. Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã.

Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn. Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến 2015 có 65% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn. Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã.

Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa). Đến 2020 có 77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch). Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện nội dung “Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã”. Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện nội dung : “Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã”; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện nội dung : “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã”.

Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện nội dung : “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã”. Bộ Giáo dục hướng dẫn thực hiện nội dung : “Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ