Luận văn thạc sĩ phân tích tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phân tích tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2014

108
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu của đề tài

0.6. Ý nghĩa của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN SỰ TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

1.1. Tổng quan về niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.1. Niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BC- Bussiness Confidence)

1.1.2. Khái niệm

1.2. Các nhân tố tác động đến niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp

1.3. Mục tiêu khảo sát niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp

1.4. Chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BCI-Bussiness Confidence Index)

1.5. Phương pháp đo lường

1.6. Ý nghĩa chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp

1.7. Tổng quan về niềm tin của người tiêu dùng

1.7.1. Niềm tin của người tiêu dùng (CC-Consumer Confidence)

1.7.2. Các nhân tố tác động đến niềm tin của người tiêu dùng

1.7.3. Mục tiêu khảo sát niềm tin của người tiêu dùng

1.7.4. Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (CCI-Consumer Confidence Index)

1.7.5. Phương pháp đo lường

1.7.6. Ý nghĩa của chỉ số niềm tin của người tiêu dùng

1.8. Chỉ số giá cổ phiếu

1.8.1. Nguồn gốc ra đời

1.8.2. Phân loại chỉ số giá cổ phiếu

1.8.3. Đặc điểm chỉ số giá cổ phiếu

1.8.4. Phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu

1.8.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu

1.9. Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán

1.9.1. Nghiên cứu về sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán

1.9.2. Nghiên cứu về sự tác động niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán

1.9.3. Nghiên cứu về sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán

1.10. Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán

1.10.1. Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán

1.10.2. Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin của người tiêu dùng ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán

1.11. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Thực trạng biến động của chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.2. Diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam

2.3. Thực trạng các cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.4. Thực trạng niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng tại Việt Nam

2.4.1. Thực trạng niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

2.4.2. Thực trạng niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam

2.5. Phân tích tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.5.1. Mô hình và phương pháp nghiên cứu

2.5.1.1. Mô hình nghiên cứu
2.5.1.2. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1.3. Chọn mẫu dữ liệu

2.5.2. Kết quả hồi quy theo phương pháp OLS

2.5.3. Kết quả nội suy số liệu theo phương pháp trung bình di động 2 tháng

2.5.4. Đánh giá sự tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG NHẰM TĂNG CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. Định hướng phát triển TTCK Việt Nam

3.2. Giải pháp nâng cao niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tăng chỉ số giá cổ phiếu

3.2.1. Về phía Chính phủ

3.2.1.1. Phục hồi và ổn định nền kinh tế
3.2.1.2. Kiểm soát lạm phát
3.2.1.3. Chính sách lãi suất từ NHNN
3.2.1.4. Thực hiện kích cầu giải quyết đầu ra cho doanh nghiệp
3.2.1.5. Ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại hối
3.2.1.6. Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp

3.2.2. Về phía doanh nghiệp

3.2.2.1. Cắt giảm chi phí sản xuất
3.2.2.2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3.2.2.3. Tạo niềm tin với người tiêu dùng

3.3. Giải pháp nâng cao niềm tin của người tiêu dùng nhằm tăng chỉ số giá cổ phiếu

3.3.1. Giảm chi phí thiết yếu

3.3.2. Cải thiện thị trường lao động và gia tăng thu nhập

3.3.3. Các giải pháp hỗ trợ

3.3.4. Nâng cao tính minh bạch trên thị trường

3.3.5. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại chứng khoán

3.4. Thu hút nhà đầu tư tổ chức tham gia thị trường chứng khoán

3.5. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động niềm tin doanh nghiệp đến giá cổ phiếu

Niềm tin doanh nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Khi niềm tin của doanh nghiệp tăng, các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư nhiều hơn, dẫn đến giá cổ phiếu tăng. Ngược lại, khi niềm tin giảm, giá cổ phiếu có thể giảm theo. Nghiên cứu cho thấy rằng niềm tin doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư mà còn phản ánh tình trạng kinh tế chung.

1.1. Khái niệm niềm tin doanh nghiệp và giá cổ phiếu

Niềm tin doanh nghiệp (Business Confidence) được định nghĩa là mức độ lạc quan của các nhà quản lý về triển vọng kinh doanh. Giá cổ phiếu là chỉ số phản ánh giá trị của doanh nghiệp trên thị trường. Sự tương tác giữa hai yếu tố này có thể được phân tích qua các chỉ số như chỉ số niềm tin kinh doanh (BCI) và chỉ số giá cổ phiếu (VN-Index).

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin doanh nghiệp

Có nhiều yếu tố tác động đến niềm tin doanh nghiệp, bao gồm lạm phát, khủng hoảng tài chính, và chính sách lãi suất. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất mà còn tác động trực tiếp đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

II. Vấn đề và thách thức trong việc duy trì niềm tin doanh nghiệp

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, việc duy trì niềm tin doanh nghiệp gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như khủng hoảng tài chính toàn cầu và lạm phát cao đã làm giảm niềm tin của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến sự biến động không ổn định của giá cổ phiếu, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường chứng khoán.

2.1. Tác động của khủng hoảng tài chính đến niềm tin doanh nghiệp

Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây ra những bất ổn trong nền kinh tế, làm giảm niềm tin của doanh nghiệp. Khi niềm tin giảm, các doanh nghiệp thường cắt giảm đầu tư, dẫn đến sự suy giảm trong hoạt động sản xuất và ảnh hưởng đến giá cổ phiếu.

2.2. Lạm phát và ảnh hưởng đến niềm tin doanh nghiệp

Lạm phát cao làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí tăng, niềm tin của doanh nghiệp vào khả năng sinh lời giảm, dẫn đến sự giảm giá cổ phiếu trên thị trường.

III. Phương pháp nâng cao niềm tin doanh nghiệp để tăng giá cổ phiếu

Để nâng cao niềm tin doanh nghiệp, cần có các giải pháp cụ thể từ cả phía chính phủ và doanh nghiệp. Chính phủ cần thực hiện các chính sách kinh tế ổn định, trong khi doanh nghiệp cần cải thiện hoạt động sản xuất và quản lý tài chính.

3.1. Chính sách kinh tế ổn định từ chính phủ

Chính phủ cần thực hiện các chính sách nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và tăng cường niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán.

3.2. Cải thiện hoạt động sản xuất và quản lý tài chính

Doanh nghiệp cần tập trung vào việc cắt giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc này không chỉ giúp tăng lợi nhuận mà còn tạo niềm tin cho nhà đầu tư, từ đó thúc đẩy giá cổ phiếu tăng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về niềm tin doanh nghiệp

Nghiên cứu cho thấy rằng niềm tin doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ đến giá cổ phiếu. Các chỉ số niềm tin kinh doanh và chỉ số giá cổ phiếu thường có mối quan hệ tỷ lệ thuận. Khi niềm tin tăng, giá cổ phiếu cũng có xu hướng tăng theo.

4.1. Kết quả nghiên cứu về niềm tin doanh nghiệp tại Việt Nam

Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy rằng niềm tin doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến chỉ số giá cổ phiếu. Các doanh nghiệp có niềm tin cao thường có giá cổ phiếu ổn định và tăng trưởng tốt.

4.2. Ứng dụng thực tiễn từ các nghiên cứu quốc tế

Các nghiên cứu quốc tế cũng chỉ ra rằng niềm tin doanh nghiệp là yếu tố quyết định trong việc dự đoán giá cổ phiếu. Các nhà đầu tư thường dựa vào chỉ số niềm tin để đưa ra quyết định đầu tư.

V. Kết luận và tương lai của niềm tin doanh nghiệp trong thị trường chứng khoán

Niềm tin doanh nghiệp sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá cổ phiếu trong tương lai. Các chính sách kinh tế ổn định và sự cải thiện trong hoạt động sản xuất sẽ là yếu tố quyết định giúp nâng cao niềm tin doanh nghiệp.

5.1. Tương lai của niềm tin doanh nghiệp tại Việt Nam

Dự báo rằng niềm tin doanh nghiệp sẽ được cải thiện trong bối cảnh kinh tế ổn định. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.

5.2. Các yếu tố cần theo dõi trong tương lai

Các yếu tố như lạm phát, chính sách tiền tệ và tình hình kinh tế toàn cầu sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến niềm tin doanh nghiệp. Việc theo dõi các yếu tố này sẽ giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ phân tích tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Chương 2: Phân tích tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đền chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Giải pháp nâng cao niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng nhằm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Ngoài ra, luận văn còn có 23 phụ lục bao gồm những nội dung cấn thiết nhằm minh họa và bổ trợ cho nội dung luận văn. Ý nghĩa của đề tài Đề tài nghiên cứu phân tích được sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến VN-Index thông qua một ước lượng cụ thể về sự tác động đến chỉ số giá cổ phiếu. Từ đó, thực hiện đánh giá, tìm được hạn chế, đề xuất các giải pháp gia tăng niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng với mục đích nhằm làm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SỰ TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 1.Tổng quan về niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp 1. Niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BC- Bussiness Confidence) 1.Khái niệm Niềm tin kinh doanh luôn tác động trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh, một trong những mục tiêu hàng đầu mà DN hướng đến. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường hậu khủng hoảng hiện nay, cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt, niềm tin kinh doanh càng đóng vai trò quan trọng quyết định tới sự thành bại trong cuộc chiến để khẳng định sự tồn tại và sức mạnh của DN. Niềm tin kinh doanh của DN có thể được hiểu là nhận định của DN đối với nền kinh tế, với các chính sách vĩ mô của Chính phủ… là cơ sở, đồng lực để DN phục hồi, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua chiến lược và các hoạt động truyền thông để đưa đến cái nhìn rõ hơn về thực trạng và tương lai của DN cho TTCK.

Đây được xem như bước đi khôn ngoan mà các DN đang thực hiện để tạo những bước chuyển biến tích cực cho giá cổ phiếu góp phần vào sự gia tăng chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Hiện nay, niềm tin kinh doanh tại các nước trên thế giới được hiểu theo nhiều nghĩa, cụ thể: - Theo Financial Times Lexicon: “Niềm tin kinh doanh là một chỉ số kinh tế đo lường mức độ lạc quan hoặc bi quan mà các nhà quản lý kinh doanh về triển vọng của các công ty hoặc tổ chức của họ. Nó cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng của nền kinh tế”. - Tại Mỹ, niềm tin kinh doanh của Mỹ đo lường mức độ lạc quan của các chủ doanh nghiệp về hoạt động của nền kinh tế và triển vọng của doanh nghiệp.

Các điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh có thể cung cấp những dấu hiệu tin cậy về điều kiện hiện tại của nền kinh tế, bởi vì các doanh nghiệp luôn có thông tin về nhu cầu của người tiêu dùng sớm hơn các nhà nghiên cứu thống kê hay Chính phủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Tại Nhật Bản, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tiến hành cuộc điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh với tên gọi cuộc Khảo sát Tankan. Khảo sát Tankan hỏi các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh để giúp quyết định chính sách tiền tệ. Tankan đưa lại cái nhìn thấu suốt về hướng đi tương lai của chi tiêu đầu tư và việc định giá cũng như triển vọng của doanh nghiệp về việc làm và toàn bộ nền kinh tế.

Chỉ số này được các nhà đầu tư quốc tế sử dụng như cửa sổ để nhìn vào nền kinh tế Nhật Bản, và quan trọng hơn, để NHTW Nhật Bản quyết định chính sách tiền tệ. Vậy niềm tin kinh doanh của DN có thể hiểu đo lường sự lạc quan hay bi quan của các nhà quản lý DN về triển vọng của các công ty hoặc tổ chức và được các chủ DN thể hiện thông qua việc mở rộng hay thu hẹp hoạt động sản xuất, hoạt động đầu tư và đồng thời niềm tin kinh doanh cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng của nền kinh tế. Giảm niềm tin kinh doanh cho thấy tâm lý bi quan của các DN trước các vấn đề về tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, các DN sẽ giảm đầu tư, ngược lại khi các DN cảm thấy lạc quan hơn về nền kinh tế, đồng nghĩa với niềm tin kinh doanh tăng sẽ thực hiện đầu tư, sản xuất kinh doanh được đẩy mạnh.Các nhân tố tác động đến niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp Niềm tin kinh doanh cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng nền kinh tế nên chịu tác động chi phối bởi: - Lạm phát: một khi nền kinh tế chưa thật sự kiểm soát tốt lạm phát và lạm phát tăng luôn là dấu hiệu cho thấy rằng sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững.

Biểu hiện của lạm phát là giá cả hàng hoá tăng, sản lượng bán ra thấp làm khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp, đối với DNNY điều này bất lợi vì ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và khi nền kinh tế lạm phát tăng sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của DN vào hoạt động sản xuất, vào nền kinh tế. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá cùng với đó niềm tin kinh doanh của DN tăng. - Khủng hoảng tài chính toàn cầu: gây ra những bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô, lạm phát khó kiểm soát, nợ xấu gia tăng, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế diễn ra chậm… những thông tin bất lợi làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 của DNNY, hậu quả làm cho tổng cầu giảm, tồn kho của nền kinh tế tăng cao, các DN không tiêu thụ được đầu ra, hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ, niềm tin kinh doanh của DN giảm những điều này sẽ tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên TTCK. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất của DN bị thu hẹp làm cho thu nhập người lao động giảm, thất nghiệp gia tăng như vòng xoáy đi xuống không có lối ra.

NĐT tham gia TTCK bị tác động rất lớn bởi thông tin tiêu cực làm cho hoạt động của thị trường trở nên kém hấp dẫn và ít thu hút sự tham gia của NĐT. - Lãi suất cho vay của các ngân hàng: khi các kênh huy động vốn như huy động vốn ngắn hạn qua ngân hàng, huy động vốn qua TTCK, huy động vốn quốc tế… gặp khó khăn, do vậy DN chỉ còn tìm đến ngân hàng, vì DN quá phụ thuộc vào ngân hàng nên khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ sẽ tác động đến hoạt động sản xuất của DN, đặc biệt trong chính sách lãi suất vay vốn, với các khoản vay trung dài hạn chịu lãi suất cao từ trước khiến các DN điêu đứng, lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với DN, chi phí này được chuyển cho các cổ đông vì sẽ hạ thấp lợi nhuận mà DN dùng để thanh toán cổ tức. Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với NĐT tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao bên cạnh đó lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của DN vì nó khuyến khích DN giữ lại tiền mặt nhàn rỗi hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó khuếch trương kinh doanh. Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng tương đương và trái ngược của chỉ số giá cổ phiếu.

Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ đạo trong lạm phát thì mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của TTCP. Lãi suất có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn. Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, chỉ số giá cổ phiếu sẽ giảm. Nhưng nếu lạm phát không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào TTCP thường mang lại nhiều lãi.

Bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng. Nhưng trong thực tế NHNN liên tục có những chính sách giảm lãi suất vay tạo thêm tín hiệu tốt cho DN nhưng việc tiếp cận nguồn vốn của DN gặp nhiều khó khăn, chính những điều trên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 làm cho hoạt động sản xuất gặp khó khăn và niềm tin kinh doanh bị giảm sút và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như giá cổ phiếu. - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất DN, niềm tin của DN. Sự tác động thông qua khi chỉ số CPI tăng, nguyên nhân gây ra lạm phát, làm cho chi phí đầu vào tăng do giá cả các yếu tố đồng loạt tăng, sản phẩm sản xuất khó cạnh tranh do giá thành cao điều này gây khó khăn cho DN trong sản xuất, làm cho niềm tin của DN giảm.

Do vậy, CPI luôn được kiểm soát nhằm ngăn chặn sự gia tăng. - Nhân tố khác: giá cả hàng hóa trong nước cao hơn hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa trong nước không cạnh tranh được với hàng hóa nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ hướng đến dùng hàng nhập, không khuyến khích được sản xuất trong nước, tồn kho DN tăng, sản xuất bị ngưng trệ làm cho niềm tin kinh doanh của DN giảm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ