Chương 1: Tổng quan sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Chương 2: Phân tích tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đền chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Giải pháp nâng cao niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng nhằm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Ngoài ra, luận văn còn có 23 phụ lục bao gồm những nội dung cấn thiết nhằm minh họa và bổ trợ cho nội dung luận văn. Ý nghĩa của đề tài Đề tài nghiên cứu phân tích được sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến VN-Index thông qua một ước lượng cụ thể về sự tác động đến chỉ số giá cổ phiếu. Từ đó, thực hiện đánh giá, tìm được hạn chế, đề xuất các giải pháp gia tăng niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng với mục đích nhằm làm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN SỰ TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 1.Tổng quan về niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp 1. Niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BC- Bussiness Confidence) 1.Khái niệm Niềm tin kinh doanh luôn tác động trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh, một trong những mục tiêu hàng đầu mà DN hướng đến. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường hậu khủng hoảng hiện nay, cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt, niềm tin kinh doanh càng đóng vai trò quan trọng quyết định tới sự thành bại trong cuộc chiến để khẳng định sự tồn tại và sức mạnh của DN. Niềm tin kinh doanh của DN có thể được hiểu là nhận định của DN đối với nền kinh tế, với các chính sách vĩ mô của Chính phủ… là cơ sở, đồng lực để DN phục hồi, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua chiến lược và các hoạt động truyền thông để đưa đến cái nhìn rõ hơn về thực trạng và tương lai của DN cho TTCK.
Đây được xem như bước đi khôn ngoan mà các DN đang thực hiện để tạo những bước chuyển biến tích cực cho giá cổ phiếu góp phần vào sự gia tăng chỉ số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Hiện nay, niềm tin kinh doanh tại các nước trên thế giới được hiểu theo nhiều nghĩa, cụ thể: - Theo Financial Times Lexicon: “Niềm tin kinh doanh là một chỉ số kinh tế đo lường mức độ lạc quan hoặc bi quan mà các nhà quản lý kinh doanh về triển vọng của các công ty hoặc tổ chức của họ. Nó cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng của nền kinh tế”. - Tại Mỹ, niềm tin kinh doanh của Mỹ đo lường mức độ lạc quan của các chủ doanh nghiệp về hoạt động của nền kinh tế và triển vọng của doanh nghiệp.
Các điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh có thể cung cấp những dấu hiệu tin cậy về điều kiện hiện tại của nền kinh tế, bởi vì các doanh nghiệp luôn có thông tin về nhu cầu của người tiêu dùng sớm hơn các nhà nghiên cứu thống kê hay Chính phủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Tại Nhật Bản, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tiến hành cuộc điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh với tên gọi cuộc Khảo sát Tankan. Khảo sát Tankan hỏi các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh để giúp quyết định chính sách tiền tệ. Tankan đưa lại cái nhìn thấu suốt về hướng đi tương lai của chi tiêu đầu tư và việc định giá cũng như triển vọng của doanh nghiệp về việc làm và toàn bộ nền kinh tế.
Chỉ số này được các nhà đầu tư quốc tế sử dụng như cửa sổ để nhìn vào nền kinh tế Nhật Bản, và quan trọng hơn, để NHTW Nhật Bản quyết định chính sách tiền tệ. Vậy niềm tin kinh doanh của DN có thể hiểu đo lường sự lạc quan hay bi quan của các nhà quản lý DN về triển vọng của các công ty hoặc tổ chức và được các chủ DN thể hiện thông qua việc mở rộng hay thu hẹp hoạt động sản xuất, hoạt động đầu tư và đồng thời niềm tin kinh doanh cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng của nền kinh tế. Giảm niềm tin kinh doanh cho thấy tâm lý bi quan của các DN trước các vấn đề về tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, các DN sẽ giảm đầu tư, ngược lại khi các DN cảm thấy lạc quan hơn về nền kinh tế, đồng nghĩa với niềm tin kinh doanh tăng sẽ thực hiện đầu tư, sản xuất kinh doanh được đẩy mạnh.Các nhân tố tác động đến niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp Niềm tin kinh doanh cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng nền kinh tế nên chịu tác động chi phối bởi: - Lạm phát: một khi nền kinh tế chưa thật sự kiểm soát tốt lạm phát và lạm phát tăng luôn là dấu hiệu cho thấy rằng sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững.
Biểu hiện của lạm phát là giá cả hàng hoá tăng, sản lượng bán ra thấp làm khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp, đối với DNNY điều này bất lợi vì ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và khi nền kinh tế lạm phát tăng sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của DN vào hoạt động sản xuất, vào nền kinh tế. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá cùng với đó niềm tin kinh doanh của DN tăng. - Khủng hoảng tài chính toàn cầu: gây ra những bất ổn trong nền kinh tế vĩ mô, lạm phát khó kiểm soát, nợ xấu gia tăng, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế diễn ra chậm… những thông tin bất lợi làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 của DNNY, hậu quả làm cho tổng cầu giảm, tồn kho của nền kinh tế tăng cao, các DN không tiêu thụ được đầu ra, hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ, niềm tin kinh doanh của DN giảm những điều này sẽ tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên TTCK. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất của DN bị thu hẹp làm cho thu nhập người lao động giảm, thất nghiệp gia tăng như vòng xoáy đi xuống không có lối ra.
NĐT tham gia TTCK bị tác động rất lớn bởi thông tin tiêu cực làm cho hoạt động của thị trường trở nên kém hấp dẫn và ít thu hút sự tham gia của NĐT. - Lãi suất cho vay của các ngân hàng: khi các kênh huy động vốn như huy động vốn ngắn hạn qua ngân hàng, huy động vốn qua TTCK, huy động vốn quốc tế… gặp khó khăn, do vậy DN chỉ còn tìm đến ngân hàng, vì DN quá phụ thuộc vào ngân hàng nên khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ sẽ tác động đến hoạt động sản xuất của DN, đặc biệt trong chính sách lãi suất vay vốn, với các khoản vay trung dài hạn chịu lãi suất cao từ trước khiến các DN điêu đứng, lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với DN, chi phí này được chuyển cho các cổ đông vì sẽ hạ thấp lợi nhuận mà DN dùng để thanh toán cổ tức. Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với NĐT tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao bên cạnh đó lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của DN vì nó khuyến khích DN giữ lại tiền mặt nhàn rỗi hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó khuếch trương kinh doanh. Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng tương đương và trái ngược của chỉ số giá cổ phiếu.
Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ đạo trong lạm phát thì mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của TTCP. Lãi suất có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn. Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, chỉ số giá cổ phiếu sẽ giảm. Nhưng nếu lạm phát không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào TTCP thường mang lại nhiều lãi.
Bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng. Nhưng trong thực tế NHNN liên tục có những chính sách giảm lãi suất vay tạo thêm tín hiệu tốt cho DN nhưng việc tiếp cận nguồn vốn của DN gặp nhiều khó khăn, chính những điều trên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 làm cho hoạt động sản xuất gặp khó khăn và niềm tin kinh doanh bị giảm sút và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như giá cổ phiếu. - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất DN, niềm tin của DN. Sự tác động thông qua khi chỉ số CPI tăng, nguyên nhân gây ra lạm phát, làm cho chi phí đầu vào tăng do giá cả các yếu tố đồng loạt tăng, sản phẩm sản xuất khó cạnh tranh do giá thành cao điều này gây khó khăn cho DN trong sản xuất, làm cho niềm tin của DN giảm.
Do vậy, CPI luôn được kiểm soát nhằm ngăn chặn sự gia tăng. - Nhân tố khác: giá cả hàng hóa trong nước cao hơn hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa trong nước không cạnh tranh được với hàng hóa nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ hướng đến dùng hàng nhập, không khuyến khích được sản xuất trong nước, tồn kho DN tăng, sản xuất bị ngưng trệ làm cho niềm tin kinh doanh của DN giảm.