PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đói nghèo đang là vấn đề bức xúc và nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy đây là vấn đề đƣợc các Chính phủ, các nhà lãnh đạo, các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu và xem xét để tìm các giải pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn đói nghèo trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển tại Châu Á, tuy nhiên còn gặp phải nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn khá cao.
Trong những năm qua, công tác xóa đói giảm nghèo đã đƣợc tiến hành đồng bộ trên cả nƣớc để cải thiện đời sống vật chất của nhân dân, cơ sở hạ tầng yếu kém ở các đô thị đã đƣợc quan tâm xây dựng, nâng cấp và chỉnh trang dƣới sự lãnh chỉ đạo của Đảng, quản lý của Nhà nƣớc và các nguồn vốn hỗ trợ của những tổ chức phi chính phủ nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, Việt Nam đang trên đƣờng phát triển công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nƣớc, không thể tránh khỏi việc dân số tại khu vực thành thị gia tăng một cách đột biến do ảnh hƣởng không nhỏ đến quá trình đô thị hoá. Trong khi đó, đầu tƣ cơ sở hạ tầng và dịch vụ công ích tại các đô thị lại quá tụt hậu so với nhu cầu. Các khu dân cƣ thu nhập thấp đã hình thành và tiếp tục gia tăng với cơ sở hạ tầng và dịch vụ yếu kém, không theo quy hoạch.
Điều này lâu dài sẽ gây nguy hại và ảnh hƣởng đến môi trƣờng và sức khỏe của ngƣời dân trên diện rộng. Do đó, mục tiêu đổi mới, cải tạo và chi phí thấp đã đƣợc Nhà nƣớc và Chính quyền các cấp đặt ra và chú ý quan tâm đến trong việc giải quyết những thách thức của việc phát triển đô thị hóa của Việt Nam. Để cụ thể hóa các hành động về xóa đói giảm nghèo, Chính phủ Việt Nam đã đề nghị với Ngân hàng Thế giới (WB) hỗ trợ chuẩn bị một dự án nâng cấp đô thị vì ngƣời nghèo nhƣ là sự đầu tƣ ban đầu cho Chƣơng trình Quốc gia. Điều này đƣợc thực hiện thông qua việc chuẩn bị một loạt các nghiên cứu “Tăng cƣờng khả năng tiếp cận tới cơ sở hạ tầng và nhà ở cho quần thể nghèo đô thị và dễ bị tổn hại tại Việt Nam” để giúp Việt Nam phát triển và xây dựng một chƣơng trình Nâng cấp đô thị Quốc gia (NUUP).
1 Dự án nâng cấp đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long là dự án thuộc Chƣơng trình nâng cấp đô thị quốc gia (NUUP) đƣợc Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ bao gồm 06 tiểu dự án: thành phố Cần Thơ, Mỹ Tho, Cao Lãnh, Trà Vinh, Rạch Giá và Cà Mau thuộc các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Tiền Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Kiên Giang và Cà Mau. Dự án đƣợc cụ thể thành các hoạt động có thể thực hiện đƣợc nhằm đạt đƣợc các mục tiêu và chỉ tiêu nâng cấp đô thị tại các khu vực có thu nhập thấp, nơi hạ tầng kém phát triển cũng nhƣ mức độ tiếp cận các dịch vụ đô thị còn nhiều hạn chế. Nâng cấp còn gồm cả các hoạt động xây dựng và đầu tƣ để tạo ra một mức tiếp cận đến các dịch vụ cơ bản tốt hơn cho dân nghèo đô thị. Nâng cấp đô thị có thể đƣợc xem là công tác tiến hành cải tiến các khu có thu nhập thấp, những cải tiến này đƣợc thiết kế theo các tiêu chuẩn cơ sở, “có khả năng đáp ứng” và nhằm tránh có những tác động ảnh hƣởng tới cộng đồng ở mức tối thiểu, thấy đƣợc những tác động về môi trƣờng trong thời gian ngắn nhất có thể và khuyến khích nhân dân cải thiện chỗ ở của họ.
Dự án Nâng cấp đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long – Tiểu dự án thành phố Cao Lãnh (sau đây gọi là Tiểu dự án thành phố Cao Lãnh) bao gồm 03 hợp phần chính: Hợp phần 1: nâng cấp cơ sở hạ tầng cấp 3 trong các khu thu nhập thấp (LIA); Hợp phần 2: hạ tầng hỗ trợ cấp 1 và cấp 2; Hợp phần 3: xây dựng các khu tái định cƣ. Hạng mục trong Hợp phần 3 của Tiểu dự án có 02 khu tái định cƣ: Khu tái định cƣ Phƣờng 4 – Hòa An: diện tích 11,25ha, bao gồm 368 lô nền và các hạ tầng xã hội khác nhƣ: công viên, chợ, trƣờng học, và các sơ sở hạ tầng nhƣ: đƣờng giao thông, hệ thống cấp thoát nƣớc, khu xử lý nƣớc thải 300 m3/ngày đêm, hệ thống điện và chiếu sáng đô thị; Khu tái định cƣ LIA 4 - hay dự án còn gọi là khu sắp xếp lại, diện tích 5,49 ha, bao gồm 268 lô nền. Dự án sẽ di dời các hộ dân trong khu vực bị ảnh hƣởng để đầu tƣ lại cơ sở hạ tầng, sắp xếp lại các thửa đất để xây dựng nhà ở và cải thiện điều kiện vệ sinh môi trƣờng cho toàn khu vực. Việc chỉnh trang và xây dựng mới hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội là một yêu cầu rất cấp thiết.
Bên cạnh đó, việc di dời tái định cƣ các hộ dân bị ảnh hƣởng bởi dự án là phƣơng án không thể tránh khỏi. Do vậy, về lâu dài, dù có cố gắng hạn chế 2 tối đa việc di dời, tái định cƣ khi thực hiện các dự án nhƣng việc các hộ dân trong diện tái định cƣ bị ảnh hƣởng đến đời sống kinh tế - xã hội vẫn ở quy mô không nhỏ. Tuy nhiên, tại các khu tái định cƣ đƣợc xây dựng trong thời gian gần đây có rất nhiều bất cập nhƣ: việc di dời chỗ ở làm cho thu nhập của ngƣời dân vốn dĩ không ổn định và khó khăn; đời sống văn hoá tinh thần của ngƣời dân tại các khu tái định cƣ không đƣợc cải thiện so với nơi ở cũ; việc đảm bảo các điều kiện vật chất, tinh thần phục vụ đời sống nhƣ mua bán, y tế, giáo dục và đào tạo, nhân hộ khẩu của ngƣời dân còn hạn chế. Điều này tạo nên áp lực cho việc di dời, tái định cƣ trong quá trình phát triển của Thành phố Cao Lãnh, dẫn đến một số khu tái định cƣ không mang lại hiệu quả nhƣ mong đợi.
Xuất phát từ những vấn đề bất cập tác giả đã nêu trên trong quá trình di dời tái định cƣ, việc tiến hành lựa chọn đề tài “Tác động của Dự án Nâng cấp đô thị đến đời sống các hộ tái định cư tại Thành phố Cao Lãnh” là thực sự cần thiết trong việc đánh giá mức độ cải thiện các mặt trong đời sống của ngƣời dân bị ảnh hƣởng bởi dự án Nâng cấp đô thị. Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Theo Trần Lê Tâm, (2012) nghiên cứu về Tác động của việc tái định cƣ đến đời sống ngƣời dân trong vùng dự án của dự án ADB Cải thiện môi trƣờng đô thị miền Trung Việt Nam (dự án ADB) đã làm rõ những khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn, phƣơng pháp nghiên cứu về phân tích đánh giá tác động của hoạt động tái định cƣ. Xác định và mô tả chính sách tái định cƣ của Chính phủ Việt Nam và ADB và những vấn đề của ngƣời dân tái định cƣ chịu ảnh hƣởng trực tiếp của các chính sách tái định cƣ qua việc so sánh hiện trạng đời sống của ngƣời dân tái định cƣ hiện nay so với trƣớc khi thực hiện chính sách, ở các khía cạnh.
Đánh giá mức độ hài lòng của ngƣời dân vùng tái định cƣ về các mặt của đời sống (kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trƣờng). Đƣa ra kết luận nghiên cứu và đề xuất kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả của các chính sách tái định cƣ và giảm thiểu bất lợi của các chính sách này lên đời sống ngƣời dân sau tái định cƣ trong thời gian tới. 3 Theo nghiên cứu của Trịnh Duy Luân, (2009) về Tái định cƣ trong phát triển đô thị và một số vấn đề xã hội, tác giả đã nêu lên những vấn đề liên quan đến tái định cƣ ở đô thị, những thách thức, những vấn đề xã hội của việc di dân tái định cƣ và hậu tái định cƣ nhƣ: việc làm, y tế, giáo dục và đào tạo, tiếp cận các dịch vụ xã hội, mức độ hòa nhập cộng đồng. Đồng thời tác giả cũng nêu một số gợi ý định hƣớng chính sách tái định cƣ trong phát triển đô thị.
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Hoàng Hoa về Thực trạng và giải pháp di dân tái định cƣ từ các công trình phát triển tài nguyên nƣớc, tác giả đã đƣa ra thực trạng công tác di dân tái định cƣ ở các dự án thuỷ điện, thuỷ lợi ở Việt Nam trong thời gian qua và đƣa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực. Dẫn đến ngƣời dân và cộng đồng bị ảnh hƣởng trong ngắn hạn, phải ít nhất là không bị ảnh hƣởng tiêu cực về tình trạng sống của họ, và trong dài hạn cần phải có những cơ hội để cải thiện nâng cao đời sống. Đặc biệt chú ý để cải thiện tình trạng của ngƣời nghèo và dễ bị tổn thƣơng trong cộng đồng có liên quan. Để đảm bảo ngƣời dân tái định cƣ đến nơi ở mới có điều kiện phát triển bền vững.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Cătălin Buzoianu and Sebastian Țoc, (2013) đã đề cập đến việc tái định cƣ của các hộ dân ở Rosia Montana, Romania đƣợc một công ty Canada - Rumani mua lại đất và tái định cƣ họ tại thành phố của Alba Iulia. Tác giả cũng đề cập đến những thay đổi trong lối sống, các cơ chế tái tạo cộng đồng và những sáng kiến hậu tái định cƣ của các hộ. Những thay đổi trong cuộc sống của ngƣời dân bởi tính di động của tái định cƣ từ nông thôn – thành thị nhƣ chi phí sinh hoạt cao hơn và những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Mặt khac, ngƣời dân tái định cƣ cũng đƣợc hƣởng lợi nhiều hơn từ điều kiện sống tốt hơn, các tiện ích công cộng, cơ sở hạ tầng và cơ hội giáo dục tốt hơn cho con cái của ngƣời tái định cƣ.
Một nghiên cứu của Pham Huu Ty, A. Van Westen và Annelies Zoomers, (2013) đã khẳng định Chính phủ nắm giữ tối cao thẩm quyền trong việc thu hồi đất bắt buộc dƣới chế độ sở hữu đất đai của Nhà nƣớc Việt Nam.