Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này đưa ra những nét khái quát của đề tài bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của đề tài. Chương 2: Lý thuyết nền và các nghiên cứu trước đây. Chương này trình bày những lý thuyết cơ bản mà bài nghiên cứu dựa vào để tạo nên chủ đề nghiên cứu cũng như ghi nhận kết quả của những nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn gián tiếp nước ngoài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày phương pháp và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả các biến sử dụng trong bài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả từ thống kê mô tả và những phương trình hồi quy cho thấy các nhân tố tác động đến hoạt động đầu tư và giao của các nhà đầu tư nước ngoài đến thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phần cuối của chương tôi sẽ đánh giá, phân tích và giải thích kết quả so với thực tế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chương 5: Kết luận. Ở chương này, tôi tổng kết lại vấn đề nghiên cứu và các hạn chế của bài nghiên cứu, hàm ý chính sách, cũng như đưa ra hướng nghiên cứu mới cho những nghiên cứu tiếp sau này của tôi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG II: LÝ THUYẾT NỀN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.
Các lý thuyết nền cơ bản Trên thị trường tài chính toàn cầu khi các nhà đầu tư đưa ra các quyết định danh mục đầu tư của mình là một công việc không hề giản đơn khi có rất nhiều các cơ hội với các rủi ro và tỷ suất sinh lợi nhất định nào đó. Việc đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi đều dựa vào kinh nghiệm và các lý thuyết nền tảng cho việc ra quyết định một cách logic. Tuy nhiên hiện nay các nhà nghiên cứu đã và đang tìm hiểu xem vấn đề bất cân xứng thông tin trên thị trường giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài có phải là nguyên nhân chính dẫn đến lệch lạc nội địa và ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư trực tiếp. Do đó khi nghiên cứu về dòng vốn đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư khối ngoại lên thị trường trong nước thì chúng ta nên xem xét kỹ các lý thuyết chuẩn về danh mục đầu tư và các lý thuyết xung quanh về bất cân xứng thông tin trên thị trường hiện nay.
Lý thuyết danh mục hiệu quả Lý thuyết danh mục đầu tư lần đầu tiên được đưa ra bởi Harry Markowitz vào năm 1952 với ý trưởng rằng việc đầu tư vào một danh mục nên được lựa chọn dựạ trên mối tương quan biến động giá cả với các tài sản khác nhau. Lý thuyết này tập trung vào việc tối đa hóa tỷ suất sinh lợi kì vọng của danh mục đầu tư với cùng một mức rủi ro hay cũng có nghĩa là tối thiểu hóa mức rủi ro với cùng một mức tỷ suất sinh lợi kì vọng bằng cách đưa vào danh mục một cách có chọn lọc tài sản rủi ro. Lý thuyết đa dạng hóa danh mục là một hàm tính toán với mục tiêu đa dạng hóa trong đầu tư thiết lập “ đường biên hiệu quả” bao gồm tất cả các kết hợp tốt nhất đối với mức độ rủi ro cho trước hoặc thấp nhất đối với tỷ suất sinh lợi cho trước so với các tài sản riêng lẻ nào đó. Việc đa dạng hóa sẽ làm giảm rủi phi hệ thống trong danh mục.
Khi một danh mục được đa dạng hóa hoàn toàn, danh mục đó chỉ còn tồn tại rủi ro hệ thống vì rủi ro phi hệ thống theo đặc thù riêng biệt đã được giảm thiểu. Do đó, theo lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 thuyết danh mục hiện đại cho rằng thị trường tưởng thưởng cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào những danh mục đa dạng hóa hoàn toàn là phần bù tỷ suất cho những rủi ro hệ thống là những rủi ro không phòng tránh được của nhà đầu tư. Chính vị vậy, về mặt lý thuyết, việc nắm giữ một danh mục không đa dạng hóa hoàn toàn là một hành vi phi lý trí của nhà đầu tư. Lý thuyết danh mục hiện đại cho ta phương pháp đầu tư mang tính khoa học và được áp dụng rộng rãi trên thị trường tài chính toàn cầu.
Mô hình định giá tài sản vốn CAPM Được nghiên cứu và phát triển bởi William Sharpe từ những năm 1960. Ý tưởng phân bổ một phần vốn thuộc danh mục vào tài sản phi rủi ro (như: trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc.) và phần vốn còn lại vào tài sản rủi ro trên đường biên hiệu quả theo lý thuyết danh mục hiệu quả Markowitz. William Sharpe đã xây dựng đường thị trường vốn và thiết lập mô hình CAPM dựa trên đường thị trường hiệu quả của Markowitz. Mô hình CAPM cho thấy mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của một danh mục kỳ vọng bằng tỷ suất sinh lợi phi rủi ro cộng với phần bù rủi ro thị trường.
Được xây dựng dựa trên một số giả thiết nền tảng tuy nhiên về khía cạnh nghiên cứu và thực tiễn thì lý thuyết vẫn có ảnh hưởng nhất định quan trọng đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Mô hình CAPM được mô tả như sau: r = rf + β x (rm – rf) 2. Lý thuyết lệch lạc nội địa Lệch lạc nội địa là hành vi của các nhà đầu tư khi tập trung một tỷ trọng vốn lớn cho các tài sản nội địa nơi mà các nhà đầu tư cư trú trong khi đó tập trung số ít phần vốn cho thị trường toàn cầu. Đây là sự bất hợp lý về hành vi của các nhà đầu tư khi mà các nghiên cứu khác chỉ ra rằng một danh mục được đa dạng hóa tốt trên quy mô toàn cầu mang lại tỷ suất sinh lợi tốt hơn so với việc đa dạng hóa danh mục trong phạm vi quốc gia.
French và Poterba (1991) và Tesar và Werner (1995) là các nhà nghiên cứu tiên phong trong việc chỉ ra sự lệch lạc này. French và Poterba cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 thấy đối với giá trị tham chiếu được tính từ mô hình CAPM thì tỉ lệ phần vốn mà các nhà đầu tư từ những quốc gia phát triển đầu tư vào các cổ phiếu nước ngoài là quá thấp. Trong mô hình CAPM cho thấy rằng các nhà đầu tư sẽ giữ một danh mục các tài sản rủi ro, phương sai và tỉ suất sinh lợi kì vọng là như nhau. Kết quả là nếu nhà đầu tư đều lựa chọn như nhau ở cùng một mức danh mục tối ưu, tất cả các nhà đầu tư sẽ phân bổ danh mục của họ một cách giống nhau.
Trong trường hợp này, tỉ lệ quy mô giá trị thị trường chứng khoán của quốc gia đó so với thế giới cũng chính là tỉ lệ mà mỗi nhà đầu tư nắm giữ các chứng khoán của quốc gia đó trong danh mục của họ. Ví dụ như giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán Mỹ chiếm 45% giá trị của thị trường chứng khoán thế giới, mô hình CAPM đưa ra rằng mỗi nhà đâu tư nên nắm giữ 45% giá trị danh mục của mình tại thị trường Mỹ. Tuy nhiên, trên thực tế các nhà đầu tư nước ngoài chỉ đầu tư vào Mỹ 8% tương tự các nhà đầu tư Mỹ cũng chỉ đầu tư ra nước ngoài 14% giá trị của danh mục trong khi con số đó theo mô hình CAPM phải là 55% mới mang lại giá trị tối ưu nhất cho các nhà đầu tư tại Mỹ. Các nhà nghiên cứu nhận ra một xu hướng là hành vi lệch lạc đội địa suy giảm trong suốt các thập kỷ qua.
Mức suy giảm chứng kiến khá mạnh ở các quốc gia có thu nhập cao, trong khi các quốc gia có thu nhập thấp hơn chứng kiến mức suy giảm thấp hơn. Liệu rằng những vấn đề bất cập trên thị trường tài chính là nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề lệch lạc nội địa như: các nhà đầu tư phải tính toán những lợi ích từ việc đa dạng hóa toàn cầu và những rủi ro mà họ phải đối mặt là sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nhiều công ty nội địa hiện đang chịu sự ảnh hưởng của biến động những rủi ro thị trường. Vì vậy đầu tư vào các công ty này thì các nhà đầu tư đang gánh chịu thêm các rủi ro cho danh mục của mình.
Hay những chi phí giao dịch giữa các thị trường với nhau, trong đó bao gồm sự khác biệt trong việc đánh thuế giữa các tài sản, hoặc khác nhau trong hệ thống luật pháp các nước sở tại. Một số nước có các điều khoản luật làm cho việc giao dịch của các nhà đầu tư khối ngoại gặp nhiều khó khăn. Một số nghiên cứu khác vẫn đang tìm hiểu rõ bản chất nguồn gốc nguyên nhân của lệch lạc nội địa này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Lý thuyết bất cân xứng thông tin Thông tin luôn được xem là một loại tài sản rất có giá trị đối với tất cả các nhà đầu tư trên thị trường tài chính. Sở hữu thông tin nhanh, chính xác sẽ là một lợi thế rất lớn khi tham gia đầu tư trên thị trường. Tuy nhiên, không phải ai tham gia vào thị trường cũng có cơ hội được sở hữu một lượng thông tin như nhau cả về số lượng hay chất lượng. Điều này do hiện tượng bất cân xứng thông tin.
Theo các nhà kinh tế học thì bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin. Lý thuyết bất cân xứng thông tin được nghiên cứu đầu tiên bởi các nhà nghiên cứu như: Akerlof (1970), Rothschild và Stiglitz (1976) khi phát hiện ra rằng người bán có nhiều lợi thế hơn người mua khi nắm bắt được nhiều thông tin về sản phẩm hơn. Qua thời gian, ông và nhiều học giả khác đã nghiên cứu và bổ sung cho lý thuyết này, điển hình là, Holmström, Michael Spence và Joseph E. Trong các nghiên cứu, các ông cho rằng, bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán là hiện tượng các nhà đầu tư sở hữu một lượng thông tin khác nhau dẫn đến các lựa chọn không hợp lý của các nhà đầu tư.
Bất cân xứng thông tin còn có thể dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch (adverse selection) cho cả hai bên, rủi ro đạo đức (moral hazard)và độc quyền về thông tin (information monopoly).