Chương 1: Giới thiệu chung về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và cấu trúc của đề tài. Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Trình bày dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận tóm tắt các kết quả nghiên cứu đạt được và nêu ra những hạn chế tồn tại của nghiên cứu, từ đó đề xuất hướng mở cho những nghiên cứu sau này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Hầu hết các nghiên cứu hiện tại tập trung vào độ nhạy lãi suất và tỷ giá hối đoái của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng thông qua việc sử dụng phương pháp khác nhau. Các phương pháp khác nhau này lần lượt cho kết quả thực nghiệm khác nhau.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Trước tiên, Stone (1974) đã nghiên cứu độ nhạy của lãi suất hệ thống với mô hình hai nhân tố tỷ suất sinh lợi. Tác giả sử dụng Mô hình hai nhân tố với nhân tố thứ nhất là tỷ suất sinh lợi trên chỉ số vốn chủ sở hữu và nhân tố thứ hai là tỷ suất sinh lợi trên chỉ số trái phiếu. Mô hình hai nhân tố đã giúp giải thích tốt hơn quá trình ngẫn nhiên tạo ra tỷ suất sinh lợi chứng khoán thay vì mô hình một nhân tố. Lloyd và Shick (1977) tiếp tục mở rộng nghiên cứu mô hình hai nhân tố tỷ suất sinh lợi của Stone.
Tác giả đã sử dụng GARCH-M để kiểm định tác động của lãi suất và biến động của chính nó lên quá trình tạo ra tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Tác giả sử dụng mô hình ARCH, GARCH và kết quả thu được cho thấy thứ nhất là hiệu ứng biến động phản hồi được tìm thấy có ý nghĩa. Thứ hai, lãi suất và biến động lãi suất có tác động trực tiếp đến phân phối tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Thứ ba, mức độ vững trong những cú sốc là đáng kể cho tất cả danh mục ngân hàng, chế độ chính sách tiền tệ hiện hành.
Staikouras (1998) nghiên cứu tác động của sự thay đổi lãi suất hiện tại và không mong đợi lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phổ thông của danh mục các định chế tài chính ở Anh. Tác giả sử dụng mô hình hai nhân tố với nhân tố thứ nhất là tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phổ thông, nhân tố thứ hai là biến động lãi suất. Và kết quả cho thấy có mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phổ thông và biến động lãi suất; tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phổ thông và biến động lãi suất có mối quan hệ tương quan ngược chiều đáng kể. Wolff (2000) nghiên cứu thực nghiệm độ nhạy lãi suất của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của hai mươi ngân hàng lớn nhất tại Mỹ với việc sử dụng mô hình ARIMA.
Kết quả cho thấy độ nhạy lãi suất có mối quan hệ nghịch biến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng Mỹ trong giai đoạn cuối thập niên 1980 đến đầu thập niên 1990, kết quả có ý nghĩa thống kê. Konstantinos Drakos (2001) sử dụng mô hình GARCH-M để nghiên cứu ảnh hưởng của biến động lãi suất dài hạn lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu các Ngân hàng niêm yết trên Athens Stock Exchange trong giai đoạn ngày 14 tháng 11 năm 1997 đến ngày 16 tháng 11 năm 2000. Với dữ liệu nghiên cứu bao gồm giá cổ phiếu phổ thông đóng cửa hàng ngày của chín ngân hàng được niêm yết tại Athens Stock Exchange trong giai đoạn ngày 14 tháng 11 năm 1997 đến ngày 16 tháng 11 năm 2000, cung cấp 785 quan sát cho mỗi cổ phiếu. Kết quả nghiên cứu thấy rằng các biến tương quan với độ nhạy lãi suất, vốn lưu động và có ý nghĩa thống kê.
Choi và cộng sự (1992) áp dụng mô hình ba nhân tố nghiên cứu tác động đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu Ngân hàng Mỹ đồng thời ước lượng tác động của thị trường, tỷ giá hối đoái và các yếu tố lãi suất với giả định điều kiện sai số thay đổi. Việc phân tích một cách chung chung tác động của hoặc lãi suất hoặc tỷ giá trên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng, tác giả cung cấp bằng chứng về độ nhạy lãi suất hơn là độ nhạy tỷ giá hối đoái ngụ ý rằng biến động tỷ giá dẫn đến sự gia tăng trong biến động tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Do biến động phân nhóm, đòn bẩy và ảnh hưởng mô hình ARCH của các dữ liệu tần số cao, phương pháp ước lượng tuyến tính (OLS) tạo ra kết quả sai lệch và mâu thuẫn. Dựa trên giả định phương sai có điều kiện phụ thuộc thời gian, một vài nghiên cứu đã sử dụng mô hình ARCH/ GARRCH để nắm bắt tính chất rủi ro thay đổi theo thời gian trong những dữ liệu này.
Mansur và Elyasiani (1995) sử dụng mô hình ước lượng ARCH để nghiên cứu tác động của mức độ và biến động lãi suất trên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Kết quả nghiên cứu thấy rằng lãi suất và biến động kỳ vọng của chúng ảnh hưởng mạnh đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Flannery et al. (1997), lại sử dụng mô hình GARCH hai nhân tố để nghiên cứu mối quan hệ giữa định giá tài sản, rủi ro thay đổi theo thời gian và rủi ro lãi suất.
Kết quả cho thấy ảnh hưởng của lãi suất ít mạnh mẽ trong danh mục đầu tư cổ phiếu ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Năm 1998, Elyasiani và Mansur tiếp tục sử dụng mô hình GARCH-M để nghiên cứu mức độ biến động của lãi suất lên độ nhạy của sự phân phối tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Kết quả cho thấy sự thay đổi lãi suất có tác động ngược chiều ngay từ lần đầu trong khi sự biến động liên quan lại ảnh hưởng sau đó đến phân phối tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng. Đến năm 2003, Elyasiani và Mansur tiếp tục nghiên cứu hiệu ứng lan tỏa quốc tế của rủi ro và tỷ suất sinh lợi giữa các định chế tài chính: sử dụng mô hình GARCH 2 biến.
Trong khuôn khổ nghiên cứu, các ngân hàng được tìm thấy có độ nhạy cao với cú sốc vĩ mô như tỷ giá hối đoái, lãi suất, với sự tác động trễ tại mức độ biến động. Hướng và độ lớn của hiệu ứng từ biến động lãi suất và các cú sốc phi hệ thống ở một nước rất nhạy với các nước khác trong đó Mỹ đóng vai trò lãnh đạo. Những phát hiện này giúp ổn định tài chính quốc tế, đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế, xây dựng chính sách của ngân hàng trung ương và các cơ quan tài chính. Hooy et al.
(2004) sử dụng mô hình GARCH-M để nghiên cứu độ nhạy lãi suất và rủi ro tỷ giá của các cổ phiếu ngân hàng ở Malaysia trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính gần đây. Kết quả cho thấy rằng giai đoạn trước và trong khi cuộc khủng hoảng, việc định giá cổ phiếu ngân hàng ít nhạy với rủi ro lãi suất và tỷ giá mặc dù rủi ro của các ngân hàng Malaysia tăng sau chính sách kiểm soát vốn và chương trình hợp nhất ngân hàng. Susan Ryan và Andrew C. Worthington (2002) dùng mô hình GARCH - M, để xem xét độ nhạy theo thời gian lên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng Úc do tác động của rủi ro thị trường, lãi suất và tỷ giá hối đoái.
Với việc thu thập dữ liệu để mô hình hóa các rủi ro trong giai đoạn 1996-2001 là tỷ suất sinh lợi danh mục ngân hàng hàng ngày, chỉ số tích lũy thị trường rộng, lãi suất ngắn hạn, trung và dài hạn, và tỷ giá hối đoái được sử dụng. Kết quả cho thấy rủi ro thị trường là yếu tố quan trọng quyết định tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng, cùng với mức lãi suất kỳ hạn ngắn, trung hạn và biến động của chúng. Tuy nhiên, lãi suất dài hạn và tỷ giá hối đoái đã không xuất hiện đáng kể cho quá trình tạo ra tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn xem xét. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Đồng thuận với nghiên cứu của Elyasiani và Mansur (2003), S.
Kasman và các cộng sự (2011), đã sử dụng mô hình OLS, GARCH để nghiên cứu tác động của lãi suất và biến động tỷ giá hối đoái lên biến động và tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng, bằng chứng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Bằng việc thu thập dữ liệu chuỗi thời gian với mẫu bao gồm 13 cổ phiếu ngân hàng thương mại Thổ Nhĩ Kỳ được liệt kê trên Istanbul Stock Exchange (ISE) trong giai đoạn từ ngày 27 tháng 07 năm 1999 đến ngày 9 tháng 4 năm 2009. Kết quả nghiên cứu cho thấy biến động lãi suất và tỷ giá hối đoái có tác động ngược chiều và đáng kể vào tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng có điều kiện và độ nhạy tỷ suất sinh lợi cổ phiếu ngân hàng được xác định là mạnh đối với tỷ suất sinh lợi nhân tố thị trường hơn lãi suất và tỷ giá hối đoái.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam Huỳnh Thế Nguyễn và Nguyễn Quyết (2013) lại nghiên cứu mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái, lãi suất và giá cổ phiếu trên thị trường Tp. Hồ Chí Minh trong giai đoạn tháng 10 năm 2007 đến tháng 10 năm 2012.
Các biến trong mô hình phân tích bao gồm tỷ giá USD, lãi suất thị trường liên ngân hàng, chỉ số giá cổ phiếu được lấy logarit tự nhiên trước khi tiến hành phân tích. Tác giả sử dụng số liệu chuỗi thời gian theo tháng và phương pháp phân tích số liệu dựa trên kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định nhân quả Granger, mô hình Var để ước lượng các hàm phản ứng với ba biến số ở dạng logarit và hàm phân rã phương sai. Kết quả phân tích cho thấy có mối liên hệ giữa giá cổ phiếu với tỷ giá hối đoái tại bậc trễ hai và lãi suất tại bậc trễ một. Đồng thời giá cổ phiếu còn bị tác động bởi chính nó tại bậc trễ một và hai.
Bài nghiên cứu nhằm cung cấp đẩy đủ bức tranh về nguyên nhân gây cú "sốc" giá cổ phiếu ở nước ta và Tp. Hồ Chí Minh, cung cấp các luận cứ khoa học giúp các nhà làm chính sách xây dựng các chính sách thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung.