mở đầu giới thiệu sự cần thiết của việc thực hiện bài nghiên cứu. Bài viết nghiên cứu đối tượng nào, dùng phương pháp ra sao để đạt được mục tiêu gì. Phần hai: tổng quan lý thuyết, trình bày các lý thuyết liên quan tới các nghiên cứu trước đây đã có những ưu điểm gì có thể áp dụng, các giả định được đưa ra dựa trên lý thuyết nào. Phần ba: phương pháp nghiên cứu bao gồm việc chọn lọc dữ liệu, mô ta các biến sử dụng trong nghiên cứu, đo lường tính toán các biến như thế nào.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Phần bốn: kết quả nghiên cứu, dựa vào kết quả kiểm định và kết quả hồi quy để đảnh giá tương quan cũng như mối liên hệ của các biến. Từ đó có thể áp dụng tính toán cho trường hợp Việt Nam hay không. Phần năm: kết luận kết quả nghiên cứu, so với giả đinh ban đầu đặt ra có phù hợp hay không, còn nhươc điểm nào cần khắc phục cũng như đưa ra hướng mở rộng trong thực tiễn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.
Tác động của chế độ tỷ giá lên mức giá quốc gia Trước đây khi so sánh giá cả hàng hóa giữa các quốc gia người ta thường sử dụng khái niệm: Ngang giá sức mua là lý thuyết được phát triển vào năm 1920 bởi Gustav Cassel. Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này. Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá. P=SxP* (P là giá cả hàng hóa trong nước P là giá cả hàng hóa ở nước ngoài S là tỷ giá giao ngay) Tuy nhiên, có một câu hỏi cơ bản về kinh tế quốc tế làm như thế nào so sánh được giá của cùng một giỏ hàng hóa giữa các quốc gia khi quy về cùng loại tiền tệ khi tỷ giá biến động và giỏ hàng hóa của các quốc gia không hoàn toàn như nhau.
Câu hỏi này về sức mua đã sinh ra các lý thuyết có ảnh hưởng nhất định của tỷ giá hối đoái lên sức mua. Lý thuyết mua ngang giá sức khẳng định rằng tỷ giá giữa hai đồng tiền được xác định bởi mức giá tương đối giữa hai nước, và do đó giá một đồng tiền chung phải giống nhau trong nước. Nhưng từ lâu đã có một nghi ngờ rằng ngang giá sức mua tương đương (PPP) không tồn tại trong thực tế. Mặc dù các lý thuyết nghiên cứu sớm nhận ra trên độ chênh lệch của PPP, nhưng tới tận khi các nghiên cứu của Balassa (1964) và Kravis và Lipsey (1983) mới cho rằng một độ lệch có hệ thống từ PPP đã được khẳng định bằng thực nghiệm.
Các tác giả thấy rằng mức thu nhập thực tế bình quân đầu người ảnh hưởng đến hệ thống giá tương đối giữa các nước. Balassa cho rằng sự khác biệt thu nhập thực tế nắm bắt sự khác biệt về TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 năng suất giữa các quốc gia, trong khi Kravis và Lipsey dựa vào nguồn lực yếu tố khác nhau để giải thích sự tương đối hệ thống. Kể từ đó, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến PPP đã tập trung vào PPP tương đối, tức là giá của cùng một giỏ hàng hóa di chuyển cùng nhau theo thời gian giữa các quốc gia khi thể hiện một đồng tiền chung. Các thử nghiệm PPP tương đối thường dễ dàng hơn để thực hiện vì họ chỉ cần số liệu về chỉ số tỷ giá thực tế chứ không phải là dữ liệu về giá giữa các nước thực tế.
Imbs et al. (2005) và Crucini và Shintani (2004) đã sử dụng dữ liệu vi mô để đánh giá sự khác biệt về tính bền bỉ của hàng hóa cá nhân liên quan đến các chỉ số tổng hợp. Bất chấp sự quan điểm của các nghiên cứu PPP tương đối, một số cuộc điều tra thực nghiệm đã xem xét mức độ sai lệch của quy luật một giá sử dụng dữ liệu về hàng hóa cá nhân trên khắp các thành phố ở châu Âu và Mỹ (ví dụ như, Rogers, 2001; Goldberg và Verboven, 2005 ). Các nghiên cứu tìm hiểu vai trò của các cơ chế tỷ giá hối đoái trong việc giải thích sự khác biệt về giá tương đối của cùng một giỏ hàng hóa giữa các nước.
Sau Balassa (1964) và Kravis và Lipsey (1983), mức giá quốc gia được sử dụng để đo lường độ lệch tuyệt đối từ PPP. Do đó khái niệm mức giá quốc gia ra đời. Mức giá quốc gia được định nghĩa là tỷ lệ giữa giá tương đối giữa hai nước và tỷ giá hối đoái của họ. Đặc biệt, nó có liên hệ mật thiết với tỷ giá hối đoái thực.
Nghiên cứu phát hiện ra một mối quan hệ thực nghiệm giữa hàm giá quốc gia và chế độ tỷ giá hối đoái đã không được nghiên cứu trước đó. Cụ thể, các nước đang phát triển với tỷ giá hối đoái cố định có các mức giá quốc gia cao hơn so với những người có mức linh hoạt. Vậy mức giá quốc gia có liên quan tới chế độ tỷ giá hối đoái mà quốc gia đó đang áp dụng. Công thức tính NPL: 𝟏 𝐩𝐢,𝐣 𝐍𝐏𝐋𝐢 = ∑ 𝛚𝐣 𝐬𝐢,𝐔𝐒 𝐩𝐔𝐒,𝐣 𝐣 NPLit : mức giá quốc gia i tại thời điểm t j là tất cả hàng hóa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 si,us là tỷ giá hố i đoái giữa đồ ng tiề n của quố c gia i và dollar Mỹ ωj là khối lượng của hàng hóa j p i,j là giá hàng hóa j ở quốc gia i.
Quốc gia áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định để ổn định lạm phát sẽ dẫn tới việc có một mức giá quốc gia cao. Các quốc gia thực hiện chính sách theo xu hướng phát triển kinh tế mở rộng dẫn đến một sự đánh giá cao tài sản tại các nước với chế độ tỷ giá hối đoái cố định, nhưng không phải ở chế độ linh hoạt. Xu hướng này được thể hiện đặc biệt rõ rệt ở các nước đang phát triển. Sự thay đổi chế độ tỷ giá hối đoái đột ngột giải thích sự kết thực nghiệm giữa giá cả và chế độ tỷ giá hối đoái.
Các chế độ tỷ giá hối đoái đi kèm với một cuộc khủng hoảng tiền tệ ngụ ý rằng mức giá quốc gia thấp được tạm thời kết hợp với chế độ linh hoạt (Frankel và Rose, 1996). Tương tự như vậy, các nước neo tỷ giá hối đoái ổn định lạm phát thường phải chịu tỷ lệ lạm phát (Cassel, và Kiguel và Liviatan, 1991. Ngụ ý rằng một quốc gia áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định để ổn định lạm phát sẽ dẫn tới việc có một mức giá quốc gia cao. Broda (2006) cho rằng: có khả năng xem xét tác động của chế độ tỷ giá hối đoái lên mức giá quốc gia: Các quốc gia áp dụng tỷ giá hối đoái cố định sẽ có mức giá quốc gia cao hơn so với các quốc gia áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi.
Tác động của hội nhập tài chính quốc tế lên mức giá quốc gia Việc hội nhập tài chính toàn cầu của các thị trường vốn đã là một trong những vấn đề được quan tâm nhất trong nền kinh tế thế giới trong những thập kỷ gần đây. Giao dịch tài sản quốc tế cung cấp một số lợi ích tiềm năng. Các nước có thể chia sẻ rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế; việc phân bổ vốn hiệu quả đến các địa điểm hiệu quả nhất được phát huy; và tiêu thụ được cân bằng trên khoảng thời gian để đáp ứng với những thay đổi trong nền tảng kinh tế vĩ mô. Trong khi chia sẻ rủi ro có thể được thực hiện chủ yếu thông qua thương mại quốc tế tài sản gộp, dòng vốn ròng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Hội nhập tài chính đo lường mức độ mà quốc gia tiến hành kiểm soát vốn. Việc đo lường mức độ kiểm soát vốn của một quốc gia rất phức tạp vì rất khó đề nhận diện và đo lường tất cả các cách thức kiểm soát vốn trong thực tế. Nhiều quốc gia trên tinh thần là mở của hoàn hoàn nhưng lại kiểm soát vốn bằng nhiều biện pháp gián tiếp kèm theo. Có nhiều cách đo lường hội nhập tài chính như: Dorrucci, Meyer-Circel và Santabarbara (2009) đã đánh giá mức độ hội nhập tài chính bằng việc phát triển cơ sở dữ liệu bằng bảng dữ liệu của các khu vực tài chính.
Do đó không phản ảnh chính xác mức độ mở cửa và không đúng mức độ áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn của các quốc gia. Vì vậy thước đó này không phản ánh hết mức độ hội nhập tài chính trong thực tế. Chỉ số độ mở tài khoản vốn KAOPEN do Chin và Ito đề xuất dựa trên thông tin trong báo cáo AREAER hàng năm của IMF (Annual Report Exchange Arangements and Exchange Restrictions). KAOPEN chỉ cho thấy một quốc gia có tiến hành kiểm soát vốn hay không về mặt pháp lý.
KAOPEN đã đo lường số lượng và phạm vi các biện phát kiểm soát vốn nhưng vẫn chưa đo lường được cường độ tác động của kiểm soát vốn. Lane và Milesi-Frretti (2006) đề xuất đó lường hội nhập tài chính bằng tỷ lệ tổng tài sản và tổng nợ nước ngoài trong cán cân thanh toán. Dữ liệu được lấy từ công bố chính thức của IMF nên sẽ bớt việc phụ thuộc của hội nhập tài chính quốc tế theo tuyên bố độ mở cửa của các quốc gia hay các biện pháp hạn chế của các quốc gia. Hội nhập tài chính quốc tế sẽ được tính toán dựa trên dữ liệu của cán cân thanh toán nên sẽ minh bạch và nhất quán hơn trong cách tính.
Hội nhập tài chính được tính toán theo công thức sau 𝐅𝐀 𝐢𝐭 +𝐅𝐋𝐢𝐭 𝐅𝐈𝐍𝐢𝐭 = 𝐆𝐃𝐏𝐢𝐭 (3) FINit : Hô ̣i nhâ ̣p tài chính quố c tế của quốc gia i tại thời điểm t TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 FAit: tổ ng của tài sản nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t FLi và nơ ̣ nước ngoài của quốc gia i tại thời điểm t Cùng với cách thức mà các giao dịch được ghi nhận trong sự cân bằng của số liệu thống kê thanh toán, phân loại tài sản và nợ phải trả không thuộc sở hữu trong nước thành ba loại chính: đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn chủ sở hữu danh mục đầu tư (EQ), và các công cụ nợ (DEBT). Dự trữ ngoại hối (FX) thuộc nhóm phân loại cuối cùng này. Chữ cái A sẽ đại diện cho nhóm tài sản và L đại diện cho nhóm nghĩa vụ nợ.