CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu nước ngoài Từ lâu, các nhà quản trị của các doanh nghiệp trên toàn thế giới đã bắt đầu có sự quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng cũng như thực hiện dự toán ngân sách để theo đuổi các mục tiêu tài chính của doanh nghiệp mình, đây là một trong những chủ đề được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực kế toán quản trị từ đó đến nay (Shields & Shields, 1998a). Các nhà nghiên cứu kế toán đã cố gắng tìm hiểu mối quan hệ giữa sự tham gia ngân sách và kết quả thực hiện công việc của các đối tượng có liên quan. Một số nghiên cứu đề xuất rằng sự tham gia của ngân sách có tác động tích cực mạnh mẽ đến kết quả công việc, tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm cho quan điểm này vẫn khá mơ hồ.
Trong khi một số nghiên cứu kết luận rằng mối quan hệ này là tích cực, một số nghiên cứu khác lại cho rằng một mối quan hệ tiêu cực hoặc không có tác động gì đáng kể giữa các yếu tố này. Điển hình như Nouri & Parker (1998) đã nghiên cứu sâu mối quan hệ giữa sự tham gia dự toán ngân sách ảnh hưởng đến kết quả công việc thông qua ngân sách đầy đủ (budget adequacy) và tính cam kết thực hiện ngân sách. Sau khi phân tích hệ số tương quan, hệ số t-test, tác giả khẳng định mối quan hệ giữa sự tham gia vào dự toán ngân sách và kết quả công việc là phức tạp, các giả thiết ban đầu được ủng hộ. Bên cạnh những hạn chế của đề tài như chỉ thu thập tại một công ty, tác giả cũng đề xuất rằng tham gia dự toán ngân sách sẽ hỗ trợ ngân sách đầy đủ để cấp dưới có thể hoàn thành tốt phạm vi công việc và vì vậy làm tăng kết quả công việc của nhân viên.
Sự tham gia ngân sách cũng làm tăng tính cam kết tổ chức điều này cũng sẽ làm tăng kết quả công việc cao hơn. Theo nghiên cứu của tác giả Maiga (2005), sự tham gia vào dự toán ngân sách đã được nghiên cứu rộng rãi trong các tài liệu kế toán và được xem như là một phương tiện để cải thiện kết quả hoạt động của các doanh nghiệp. Tác giả Maiga (2005) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất rằng: Sự tham gia vào dự toán ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 sách cũng có chức năng thông tin quan trọng, qua đó các nhân viên, các cấp quản trị có thể thu thập, trao đổi và phổ biến thông tin liên quan đến công việc mà họ đang thực hiện cũng như truyền đạt các ý kiến cá nhân của họ đến các nhà quản trị cấp cao để tạo thuận lợi cho quá trình ra quyết định trong việc điều hành doanh nghiệp. Hơn nữa, hành động tham gia vào quá trình lập ngân sách sẽ giúp thúc đẩy các cấp dưới chấp nhận và cam kết các mục tiêu ngân sách mà các nhà quản trị đặt ra.
Một trong những lợi ích quan trọng nhất của việc tham gia vào quá trình dự toán ngân sách là chia sẻ thông tin giữa các thành viên trong doanh nghiệp, thông qua việc trao đổi thông tin giữa cấp dưới và cấp trên trong các cuộc thảo luận ngân sách có thể mang lại cho cá nhân và tổ chức nhiều lợi ích đặc biệt quan trọng (Shields & Shields, 1998a). Khi có sự tham gia của các nhân viên trong quá trình xây dựng dự toán ngân sách, nhà quản trị sẽ có nhiều thông tin hơn để đưa ra quyết định của mình một cách hợp lý. Kiến thức chuyên ngành và kinh nghiệm làm việc trực tiếp của những nhân viên sẽ bổ sung thêm cho nhà quản trị có sở để xác định dự toán ngân sách chính xác hơn, tránh gây ra sự lãng phí nguồn lực của doanh nghiệp, hoặc lập dự toán ngân sách nằm ngoài khả năng thực hiện của nhân viên khiến cho kế hoạch hành động không đạt được như mong muốn. Quá trình lập dự toán ngân sách còn giúp cho các bộ phận, phòng ban, nhân viên trong doanh nghiệp có thói quen lập kế hoạch và kiểm soát chi phí của mọi hoạt động, khuyến khích tiết kiệm, đề cao tinh thần tập thể, thúc đẩy việc trao đổi thông tin, phối hợp giữa các cấp, bộ phận, phòng ban.
Lý thuyết đại diện và lý thuyết tâm lý đều khẳng định rằng sự tham gia vào dự toán ngân sách ảnh hưởng tích cực đến kết quả công việc. Khi một người được tham gia vào quá trình thiết lập và điều chỉnh dự toán ngân sách, kiến thức và kỹ năng của họ sẽ góp phần hoàn thiện dự toán ngân sách một cách hợp lý, họ sẽ có thêm động lực để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Theo lý thuyết tâm lý, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia có tác động tích cực đến việc thực hiện thông qua các cơ chế tạo động lực và nhận thức (Birnberg & Luft, 2007; Shields & Shields, 1998b). Tác giả Shields & Shields (1998a) đã kết luận rằng: do cơ chế động lực TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 thúc đẩy, việc lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau sẽ làm tăng lòng tin, sự kiểm soát và sự gắn kết của các đối tượng này với tổ chức, đồng thời hạn chế sự chống đối đối với các thay đổi, chấp nhận và cam kết hơn với dự toán ngân sách được đưa ra, qua đó cải thiện kết quả công việc.
Ngoài ra, do cơ chế nhận thức, việc thiết lập dự toán ngân sách có sự tham gia của nhiều đối tượng là một quá trình trao đổi thông tin cấp trên – cấp dưới, giúp hiểu rõ hơn về tình hình và các nhiệm vụ phải hoàn thành cũng như mang lại những quyết định tốt hơn, dẫn đến kết quả công việc tốt hơn (Chenhall & Brownell, 1988; Kren, 1992; Parker & Kyj, 2006). Ngoài ra, xét về cơ chế chia sẻ thông tin trong doanh nghiệp, Winata & Mia (2005) cho rằng sự chia sẻ thông tin thông qua các thiết bị công nghệ có tác động đến quá trình tham gia dự toán. Ông đã tổng hợp các đề tài trước cho thấy rằng việc chia sẻ thông tin có sử dụng công nghệ của các nhà quản trị có thể làm tăng khối lượng, tốc độ, hiệu quả và năng lực xử lý dữ liệu của nhà quản trị. Ngoài ra, nó cũng giúp trong việc cải thiện trao đổi thông tin, giao tiếp và thảo luận cá nhân hoặc nhóm giữa các chức năng, vị trí địa lý và múi giờ khác nhau, vì vậy quá trình tham gia dự toán ngân sách sẽ thuận lợi mang lại hiệu quả cao.
Theo quan điểm của Parker & Kyj (2006) cho rằng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong quá trình lập dự toán ngân sách là sự giao tiếp thông tin giữa cấp trên và cấp dưới. Có hai khía cạnh của sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc:(1) luồng thông tin từ cấp dưới đến cấp trên (chia sẻ thông tin hướng lên); (2) luồng thông tin từ cấp trên đến cấp dưới (chia sẻ thông tin hướng xuống). Đồng tình với quan điểm trên, các tác giả khác cũng cho rằng sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc bao gồm cả hai hướng là truyền thông tin từ cấp dưới lên cấp trên vàtruyền thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới (Chow, Cooper, & Waller, 1988; Nouri & Parker, 1998). Ngoài ra, sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc còn đề cập đến mức độ những thông tin quan trọng được giao tiếp với đồng nghiệp của mình (Mohr & Spekman, 1994).
Trong khi đó, Miranda &Saunders (2003) cho rằng chia sẻ thông tin là sự thảo luận thông tin bằng miệng hoặc bằng văn bản giữa các thành viên trong nhóm (Miranda & Saunders, 2003). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Khi xem xét về yếu tố kiến thức quản trị chi phí của nhà quản trị doanh nghiệp. Agbejule & Saarikoski (2006) cho rằng kiến thức quản trị chi phí của nhà quản lý đại diện cho yếu tố năng lực của họ bởi vì kiến thức quản lý chi phí là một thuộc tính có chức năng hỗ trợ trong quá trình tham gia lập dự toán ngân sách. Người tham gia lập dự toán có kiến thức quản trị chi phí có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả của dự toán ngân sách.
Mức độ kiến thức quản trị chi phí của người tham gia có thể ảnh hưởng đến các quyết định ngân sách (Scully, Kirkpatrick, & Locke, 1995). Theo Hoque (2002) thì quản trị chi phí đòi hỏi một sự hiểu biết sâu hơn về cấu trúc chi phí của công ty, nó kết hợp các yếu tố từ ba lĩnh vực như: Kế toán quản trị, sản xuất và lập kế hoạch chiến lược. Quản trị chi phí là các hoạt động quản lý được sử dụng để lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và kiểm soát chi phí. Quản trị chi phí không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn kiểm soát và quản lý chi phí.
Trong khi đó Isik, Arditi, Dikmen & Birgonul (2009) cho rằng quản trị chi phí đề cập đến các hoạt động đảm bảo rằng chi phí dự án tổng thể thấp nhất có thể đạt được, phù hợp với mục tiêu đầu tư của chủ sở hữu.Shields and Young (1994) đã xác định có ba dạng kiến thức quản trị chi phí trong việc xác định về nhận thức chi phí của các nhà quản trị: (1) dựa trên việc xem chi tiết đơn hàng; (2) dựa trên khách hàng; và (3) quan điểm cân bằng.Trong nghiên cứu này, tác giả định nghĩa kiến thức quản trị chi phí của nhà quản trị đại diện cho yếu tố năng lực của họ bởi vì kiến thức quản trị chi phí là một thuộc tính có chức năng hỗ trợ trong quá trình tham gia lập dự toán ngân sách (Agbejule & Saarikoski, 2006). Qua khảo sát lý thuyết cho thấy, chưa có nghiên cứu nào đánh giá sự tác động của sự tham gia vào dự toán ngân sách và kiến thức quản trị đến sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc trong doanh nghiệp tại Việt Nam, cũng như chưa có nghiên cứu nào xem xét mối quan hệ giữa sự chia sẻ thông tin theo chiều dọc và kết quả công việc của các nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam. Đây chính là khe hổng nghiên cứu cần được lấp đầy. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.