phần mở đầu, kết luận, các danh mục, phụ lục, đề tài bố cục thành bốn chƣơng chính gồm: Chƣơng 1: Giới thiệu nghiên cứu Nội dung chính của chƣơng là giới thiệu tổng quát về nghiên cứu, bao gồm lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa, những đóng góp của đề tài và cấu trúc luận văn đƣợc thực hiện trong những chƣơng tiếp theo. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trƣớc Chƣơng này của luận văn đề cập tổng quát về khái niệm, các đặc điểm và quan trọng hơn là các yếu tố tác động đến lợi nhuận của hoạt động TTQT. Những lý thuyết đƣợc đề cập trong chƣơng này đều là cơ sở để phân tích cụ thể thực trạng và đánh giá hoạt động TTQT tại Sacombank. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng này trình bày quy trình nghiên cứu, đề xuất về mô hình nghiên cứu, dữ liệu và các biến trong mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến lợi nhuận của hoạt động TTQT tại Sacombank.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng này trình bày một cách tổng quát về thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sacombank. Tiếp đó tiến hành các bƣớc để kiểm định mô hình đƣa ra ở chƣơng ba. Dùng mô hình hồi quy tuyến tính để tìm ra các biến có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến lợi nhuận của hoạt động TTQT tại Sacombank. Sau đó phân tích và thảo luận các kết quả nhận đƣợc.
Chƣơng 5: Kết luận và khuyến nghị Từ kết quả đạt đƣợc ở chƣơng bốn, chƣơng này đề xuất một số khuyến nghị liên quan đến các yếu tố đã tìm đƣợc ý nghĩa thống kê giúp gia tăng lợi nhuận của hoạt động TTQT tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín trong thời gian tới. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 2.1 Tổng quan về Thanh toán quốc tế 2.1 Khái niệm về Thanh toán quốc tế Trong thời đại ngày nay, trên toàn thế giới, mỗi quốc gia độc lập thƣờng xuyên phải tiến hành những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, trên mọi lĩnh vực: Kinh tế; Chính trị; Văn hóa – Xã hội; Ngoại giao; Hợp tác đầu tƣ…Trong đó, mối quan hệ kinh tế thƣờng chiếm vị trí quan trọng và là cơ sở cho các mối quan hệ quốc tế khác. Quá trình tiến hành các hoạt động trên, tất yếu sẽ nảy sinh những nhu cầu chi trả, thanh toán tiền tệ giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau. Từ đó nảy sinh nhu cầu thực hiện các hoạt động TTQT.
“Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hƣởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nƣớc này với tổ chức, cá nhân nƣớc khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nƣớc liên quan.”1 Các quốc gia không thể tồn tại và phát triển nếu chỉ dựa vào các giao dịch, trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các hoạt động văn hóa, khoa học kỹ thuật và xã hội của bản thân quốc gia mình. Để có thể tồn tại và phát triển, các quốc gia phải tiến hành trao đổi kinh tế và thƣơng mại với nhau. Chính việc trao đổi này đã làm phát sinh các khoản thu và chi bằng tiền của nƣớc này đối với một nƣớc khác. Trong mối quan hệ chi trả này, các quốc gia phải cùng nhau quy định những yếu tố cấu thành cơ chế thanh toán giữa các quốc gia nhƣ quy định về chủ thể tham gia thanh toán, lựa chọn tiền tệ, các công cụ và các phƣơng thức đòi hoặc chi trả tiền tệ.
Tổng hợp các yếu tố cấu thành cơ chế đó tạo thành thanh toán quốc tế giữa các quốc gia. 1 Nguyễn Văn Tiến, 1/2009, trang 294 7 2.2 Các phƣơng thức về Thanh toán quốc tế Lựa chọn sử dụng phƣơng thức thanh toán quốc tế phù hợp rất quan trọng đối với các bên trong giao dịch ngoại thƣơng để cân bằng việc tối thiểu hóa cả chi phí và rủi ro. Các phƣơng thức thanh toán quốc tế chủ yếu thuộc ba nhóm, sắp xếp tăng dần theo mức độ tham gia của ngân hàng là: Phƣơng thức chuyển tiền (Remittance); Phƣơng thức nhờ thu (Collection); Phƣơng thức LC (Letter Credit). Riêng đối với các giao dịch quốc tế phi ngoại thƣơng, phƣơng thức thanh toán đƣợc sử dụng là chuyển tiền (Remittance).
- Phƣơng thức chuyển tiền (Remittance): Chuyển tiền là phƣơng thức thanh toán, trong đó khách hàng (bên chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một ngƣời/bên hƣởng lợi khác theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định. Dựa theo hình thức, phƣơng thức chuyển tiền bao gồm: Chuyển tiền bằng thƣ (Mail Transfer –M/T) và Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer –T/T). Trong đó, trong phƣơng thức chuyển tiền bằng thƣ (M/T), lệnh thanh toán (Bank draft) của ngân hàng trả tiền đƣợc thực hiện bằng thƣ đến ngân hàng trả tiền. Hình thức chuyển tiền này chậm nhƣng có chi phí thấp.
Ngày nay, hình thức chuyển tiền bằng thƣ rất hạn chế. Nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các giao dịch thuộc phƣơng thức chuyển tiền chủ yếu thực hiện qua hình thức chuyển tiền bằng điện (T/T), ngân hàng thực hiện thanh toán thông qua một bức điện gửi cho ngân hàng trả tiền bằng mạng SWIFT. Hình thức chuyển tiền bằng điện (T/T) cho phép giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác, an toàn hơn chuyển tiền bằng thƣ. Nếu căn cứ vào thời điểm chuyển tiền so với thời điểm giao hàng trong giao dịch ngoại thƣơng, phƣơng thức chuyển tiền chia thành: Chuyển tiền trƣớc khi giao hàng- Ứng trƣớc (Payment in Advance) và Chuyển tiền sau khi giao hàng (Payment after Shipment).
Thời gian thực hiện chuyển tiền trong ngoại thƣơng do hai bên thỏa thuận, thƣờng đƣợc giao kết trong hợp đồng ngoại thƣơng. Trong phƣơng thức chuyển tiền, việc thanh toán tiền hàng đƣợc thực hiện thông qua thiện chí của nhà 8 nhập khẩu/ ngƣời mua, không chịu sự điều chỉnh của các tập quán quốc tế, việc giao hàng thuộc về trách nhiệm của nhà xuất khẩu/ ngƣời bán. Do đó, nhà xuất khẩu gặp phải rủi ro nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc trì hoãn thanh toán nếu hai bên thỏa thuận chuyển tiền sau khi giao hàng. Và ngƣợc lại, nhà nhập khẩu gặp rủi ro mất vốn nếu thỏa thuận chuyển tiền trƣớc khi giao hàng.
Do vậy, phƣơng thức chuyển tiền thƣờng chỉ đƣợc áp dụng khi hai bên mua bán có uy tín, tin cậy, mối quan hệ lâu năm hoặc số tiền giao dịch không lớn. Đồng thời, đây là phƣơng thức đƣợc dùng trong hoạt động thanh toán quốc tế phi ngoại thƣơng. - Phƣơng thức nhờ thu (Collection): Phƣơng thức nhờ thu (Collection): Nhờ thu là phƣơng thức thanh toán trong đó bên bán (nhà xuất khẩu) sau khi giao hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua (nhà nhập khẩu) để đƣợc thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác. Trong thƣơng mại quốc tế, nhờ thu thực chất là quy trình ngân hàng thu hộ tiền từ ngƣời mua trả cho ngƣời bán.
Căn cứ vào hình thức, tính chất chứng từ mà ngƣời mua yêu cầu làm căn cứ trả tiền, nhờ thu (Collection) gồm 2 loại: Nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection) là phƣơng thức thanh toán nhờ thu trong đó chứng từ nhờ thu gửi qua ngân hàng chỉ bao gồm chứng từ tài chính, các chứng từ thƣơng mại đƣợc gửi trực tiếp cho nhà nhập khẩu không thông qua ngân hàng. Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection) là phƣơng thức thanh toán nhờ thu, trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu gồm: (i) Chứng từ thƣơng mại cùng chứng từ tài chính; Hoặc (ii) chỉ chứng từ thƣơng mại. “Chứng từ tài chính” gồm: hối phiếu, kỳ phiếu, séc, hoặc các phƣơng tiện khác sử dụng trong chi trả, thanh toán. “Chứng từ thƣơng mại” gồm hóa đơn, chứng từ vận tải, các chứng từ có tiêu 9 đề hoặc các chứng từ tƣơng tự khác, hoặc bất kỳ chứng từ nào khác không phải là chứng từ tài chính.
Phƣơng thức nhờ thu phiếu trơn không đƣợc áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch, vì nó không đảm bảo quyền lợi cho ngƣời bán do việc nhận hàng của ngƣời mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, ngƣời mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trả tiền. Đối với ngƣời mua áp dụng phƣơng thức này cũng có điều bất lợi vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, ngƣời mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của ngƣời bán có đúng hợp đồng hay không. Trong nhờ thu kèm chứng từ, ngƣời ủy thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với ngƣời mua, nhờ đó quyền lợi của ngƣời bán đƣợc đảm bảo hơn. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn.
Tuy vậy, nhờ thu kèm chứng từ có một số điểm yếu. Ngƣời bán thông qua ngân hàng mới khống chế đƣợc quyền định đoạt hàng hóa của ngƣời mua chứ chƣa khống chế đƣợc việc trả tiền của ngƣời mua. Ngƣời mua có thể kéo dài việc trả tiền bằng cách chƣa nhận chứng từ hoặc có thể không trả tiền cũng đƣợc khi tình hình thị trƣờng bất lợi với họ. Trong phƣơng thức này ngân hàng chỉ đóng vai trò là ngƣời trung gian thu tiền hộ còn không có trách nhiệm về việc trả tiền của ngƣời mua.
Dựa trên điều kiện trao chứng chứng từ quy định trong Lệnh nhờ thu, Phƣơng thức nhờ thu gồm: D/P –Thanh toán trao chứng từ (Documents against Payment); D/A- Chấp nhận thanh toán trao chứng từ (Documents against Acceptance); D/OT (D/TC) - Chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác trao chứng từ (Documents against Other Terms and Conditions). Phƣơng thức nhờ thu chịu sự điều chỉnh của Quy tắc thống nhất về Nhờ thu (The ICC Uniform Rules for Collections). Quy tắc thống nhất về nhờ thu phiên bản đầu tiên đƣợc phát hành bởi ICC lần đầu năm 1956, sau đó là các phiên bản năm 1967, 1978 và mới nhất là năm 1995 –ICC Uniform Rules for Collections, Publication No 522 (URC 522). Tất cả các phiên bản URC đều còn nguyên giá trị, 10 chúng không phủ nhận mà độc lập với nhau.
Các bên đƣợc tự do thỏa thuận áp dụng URC để điều chỉnh nhờ thu.