Chương 1. Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và bố cục đề tài. Tổng quan lý thuyết. Chương này trình bày cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, lược khảo một số tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Chương này nêu phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm phương pháp chọn vùng nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi điều tra, phương pháp thu thập dữ liệu, cỡ mẫu và mô hình phân tích định lượng. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, so sánh hiệu quả tài chính và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận mô hình một vụ tôm, một vụ lúa của hộ nông dân.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 5. Kết luận và kiến nghị chính sách. Chương này tổng hợp kết quả nghiên cứu, đề xuất các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hộ sản xuất theo mô hình một vu tôm, một vụ lúa. Đồng thời, đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. KHUNG KHÁI NIỆM 2. Nông hộ Nông hộ là đơn vị tái sản xuất chứa đựng tất cả các yếu tố hay các nguồn lực của quá trình tái sản xuất (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật…), là đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên việc phân bổ các nguồn lực vào các ngành sản xuất để thực hiện tốt các chức năng của nó. Trong quá trình đó, nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị khác và với hệ thống kinh tế quốc dân.
Khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của nông hộ sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân. Hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc sống chung trong một mái nhà, chung một nguồn thu nhâp, tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các thành viên trong hộ. Thu nhập và thu nhập của hộ gia đình Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập như sau: Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.
Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp. Theo Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau: Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 nhất định, thường là 1 năm, bao gồm (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền từ tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được). Chi phí Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định. Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất của nông hộ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận (Nguyễn Tấn Bình, 2005).
Chi phí biến đổi là những chi phí tăng tỷ lệ về khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ. Với một công nghệ đã xác định, biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm thường không đổi, tuy nhiên khi công nghệ sản xuất thay đổi hoặc quy trình tổ chức sản xuất thay đổi thì biến phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ thay đổi. Chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm có xu hướng giảm khi qui trình công nghệ sản xuất càng hiện đại. Năng suất sản xuất Khái niệm năng suất được nhà kinh tế học Adam Smith (1776) đưa ra trong một bài báo bàn về vấn đề hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả năng sản xuất.
Theo đó khái niệm năng suất là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực vì trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất. Theo khái niệm năng suất cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực. Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất. Ở giai đoạn này, người ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động.
Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nó trong doanh nghiệp. Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các kỹ thuật nhằm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 giảm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất. Năng suất ở giai đoạn này có nghĩa là sản xuất “nhiều hơn” với “chi phí thấp hơn”. Đây là thời điểm Adam Smith và Frederick Taylor tập trung vào việc phân chia lao động, xác định và tiêu chuẩn hoá các phương pháp làm việc tốt nhất để đạt được hiệu suất làm việc cao hơn.
Tuy nhiên, quan điểm năng suất như vậy mới chỉ dừng lại ở năng suất nguồn lực và đó chỉ là một khía cạnh của năng suất. Năng suất là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu ra đó. Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phương thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào. Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội.
Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả. Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất - kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp vĩ mô thường sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất. Đầu vào trong khái niệm này được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý.
Như vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra. Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng được với những thách thức của môi trường cạnh tranh và những mong đợi của xã hội.
Doanh thu và lợi nhuận Tổng doanh thu (TR): được tính bằng tổng các loại sản phẩm nhân với đơn giá tương ứng loại sản phẩm tương ứng. n TR Pi Qi i 1 Trong đó: Pi : số lượng sản phẩm thứ i. Qi : giá đơn vị sản phẩm thứ i. Lợi nhuận (P): được tính bằng tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí trong quá trình sản suất kinh doanh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 P TR TC Trong đó: TC là tổng chi phí. Tỉ suất lợi nhuận trên chí phí : P PCR 100% TC PCR : tỉ suất lợi nhuận trên chi phí %. P : lợi nhuận trên một đơn vị diện tích. TC : tổng chi phí trên một đơn vị diện tích.Mô hình một vụ tôm, một vụ lúa Hệ thống nuôi tôm bán thâm canh một vụ tôm, một vụ lúa phát triển vào đầu những năm 2010 từ hệ thống nuôi tôm-lúa quảng canh cải tiến với mật độ thấp.
Xuất phát từ mong muốn có năng suất, lợi nhuận cao từ nuôi tôm, người dân đã chuyển đổi sang nuôi bán thâm canh. Mô hình bán thâm canh tôm-lúa có ở hầu hết các tỉnh vùng ĐBSCL, tuy nhiên ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh mô hình nuôi tôm bán thâm canh phổ biến hơn các tỉnh khác. Do đặc điểm diện tích của các hộ nuôi tại Sóc Trăng, Trà Vinh tương đối nhỏ (< 2 ha/hộ), nên người nuôi có xu hướng tăng mật độ thả nuôi nhằm tăng lợi nhuận trong quá trình sản xuất tôm-lúa. Trong mô hình này, tôm được thả nuôi từ tháng 1 đến tháng 8, lúa được trồng (sạ hoặc cấy) từ tháng 9 đến tháng 12.
Đặc điểm chung của mô hình nuôi này là sử dụng nước mặn vào mùa khô để nuôi tôm; sử dụng nước ngọt từ nguồn sông Hậu và nước mưa trực tiếp để canh tác lúa.Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất Trích theo Trần Thị Mộng Thúy (2016), hành vi ra quyết định của nông sộ trong sản xuất được hiểu như sau: Học thuyết này bắt nguồn từ người nông dân là một cá nhân quyết định các vấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có nên sử dụng vật tư nông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây nào v.v…Học thuyết này nhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có thể thay đổi mức độ và chủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông nghiệp và ba mối quan hệ này cũng phù hợp với ba giai đoạn xây dựng học thuyết về xí nghiệp sản xuất nông nghiệp. Ba mối quan hệ đó là: (1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của nguồn lực sử dụng trong sản xuất.