Tác động của xâm nhập mặn đến thu nhập ngành trồng trọt vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ueh tác động của xâm nhập mặn đến thu nhập ngành trồng trọt vùng ven biển đồng bằng sông cửu long, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2013

92
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

1.1. Xâm nhập mặn

1.2. Tổng quan về vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long

1.3. Tác động của xâm nhập mặn đến thu nhập của nông hộ

1.4. Giới thiệu mô hình Ricardian

1.5. Kết luận chương

2. CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Giới thiệu biến và nguồn dữ liệu

2.2. Thống kê mô tả các biến

2.3. Mô hình Ricardian cho sản xuất ngành trồng trọt ở ĐBSCL

2.4. Kết luận chương

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình thực nghiệm

3.2. Phân tích kết quả nghiên cứu

3.3. Dự báo tác động của xâm nhập mặn đến thu nhập ròng từ trồng trọt ở ĐBSCL

3.4. Kết luận chương

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của xâm nhập mặn đến thu nhập ngành trồng trọt

Xâm nhập mặn là một trong những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ngành trồng trọt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng này không chỉ là nơi sản xuất lúa gạo lớn nhất của Việt Nam mà còn là khu vực chịu tác động mạnh mẽ từ biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Anh (2013), xâm nhập mặn đã làm giảm thu nhập ròng từ trồng trọt của nông hộ, gây ra những thách thức lớn cho sinh kế của người dân.

1.1. Đặc điểm xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long

Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long diễn ra chủ yếu trong mùa khô, với độ mặn tăng cao từ tháng 2 đến tháng 5. Các tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng là những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Độ mặn trung bình có thể lên đến 12 g/l, gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp.

1.2. Tình hình thu nhập ngành trồng trọt trước tác động xâm nhập mặn

Trước khi xâm nhập mặn gia tăng, thu nhập từ trồng trọt ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt mức cao, với sản lượng lúa gạo xuất khẩu chiếm hơn 90% của cả nước. Tuy nhiên, tình trạng xâm nhập mặn đã làm giảm đáng kể thu nhập của nông hộ, đặc biệt là những hộ không được hưởng lợi từ các công trình thủy lợi.

II. Vấn đề và thách thức do xâm nhập mặn gây ra cho nông hộ

Xâm nhập mặn không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn tác động đến chất lượng đất và khả năng sản xuất nông nghiệp. Nhiều nông hộ phải đối mặt với tình trạng đất bị nhiễm mặn, làm giảm năng suất cây trồng. Theo số liệu từ Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, khoảng 2,1 triệu ha đất nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn.

2.1. Tác động đến năng suất cây trồng

Năng suất cây trồng giảm mạnh do xâm nhập mặn, đặc biệt là các loại cây nhạy cảm với độ mặn như lúa. Nghiên cứu cho thấy, mỗi 1 g/l độ mặn tăng lên, thu nhập ròng của nông hộ giảm khoảng 474 nghìn đồng.

2.2. Khó khăn trong quản lý nước và đất

Quản lý nước và đất trở nên khó khăn hơn khi xâm nhập mặn gia tăng. Nhiều nông hộ không có đủ nguồn nước ngọt để tưới tiêu, dẫn đến tình trạng khô hạn và giảm năng suất. Việc xây dựng các công trình thủy lợi là cần thiết nhưng cũng gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì và quản lý.

III. Phương pháp ứng phó với xâm nhập mặn trong sản xuất nông nghiệp

Để giảm thiểu tác động của xâm nhập mặn, nhiều giải pháp đã được đề xuất và áp dụng. Các phương pháp canh tác thích ứng với xâm nhập mặn, như trồng các loại cây chịu mặn, đã được khuyến khích. Ngoài ra, việc cải thiện hệ thống thủy lợi cũng là một trong những giải pháp quan trọng.

3.1. Kỹ thuật canh tác thích ứng

Các kỹ thuật canh tác như trồng cây chịu mặn và sử dụng giống cây trồng phù hợp đã được áp dụng để giảm thiểu thiệt hại do xâm nhập mặn. Nông dân cần được đào tạo để áp dụng các kỹ thuật này hiệu quả.

3.2. Cải thiện hệ thống thủy lợi

Cải thiện hệ thống thủy lợi là một trong những giải pháp quan trọng để kiểm soát xâm nhập mặn. Việc xây dựng các cống ngăn mặn và hệ thống tưới tiêu hiệu quả sẽ giúp bảo vệ sản xuất nông nghiệp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về xâm nhập mặn

Nghiên cứu cho thấy, xâm nhập mặn có tác động tiêu cực đến thu nhập ngành trồng trọt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các hộ nông dân không được hưởng lợi từ công trình thủy lợi chịu thiệt hại nặng nề hơn. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc áp dụng các biện pháp thích ứng có thể giúp giảm thiểu thiệt hại.

4.1. Kết quả từ mô hình Ricardian

Mô hình Ricardian đã được sử dụng để đánh giá tác động của xâm nhập mặn đến thu nhập nông hộ. Kết quả cho thấy, thu nhập giảm mạnh ở những hộ không có công trình thủy lợi hỗ trợ.

4.2. Dự báo tác động trong tương lai

Dự báo cho thấy, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, tình trạng xâm nhập mặn sẽ tiếp tục gia tăng, gây thiệt hại lớn cho ngành trồng trọt. Cần có các chính sách hỗ trợ nông dân trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho ngành trồng trọt

Tình trạng xâm nhập mặn đang là một thách thức lớn đối với ngành trồng trọt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Cần có các giải pháp đồng bộ để ứng phó với tình trạng này, từ cải thiện hệ thống thủy lợi đến áp dụng các kỹ thuật canh tác thích ứng. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức và hỗ trợ nông dân trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu.

5.1. Tăng cường hỗ trợ nông dân

Cần có các chương trình hỗ trợ nông dân trong việc áp dụng các biện pháp thích ứng với xâm nhập mặn. Việc đào tạo và cung cấp thông tin là rất cần thiết.

5.2. Chính sách phát triển bền vững

Chính sách phát triển bền vững cần được xây dựng để bảo vệ sản xuất nông nghiệp và đảm bảo sinh kế cho người dân. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để thực hiện hiệu quả.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Xâm nhập mặn 1. Xâm nhập mặn và nguyên nhân dẫn đến xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long Xâm nhập xảy ra khi nước mặn hòa lẫn với nước ngọt. Điều này xảy ra trên toàn thế giới và có thể ảnh hưởng đến cả nước ngầm và nước bề mặt (Barlow, 2003).

Nguyên lý của xâm nhập mặn là khi không đủ lưu lượng nước chảy vào cửa sông, vùng thấp và thay vào đó nước mặn chảy vào đất liền. Rất nhiều kênh rạch và hệ thống thoát nước cục bộ cho phép sự xâm nhập của nước biển vào nhiều nơi trên đồng bằng đi từ các kênh chính (Hashimoto, 2001). Xâm nhập mặn là một hiện tượng định kỳ tại Việt Nam. Nước từ Biển Đông và Vịnh Thái Lan có thể xâm nhập vào nội địa ảnh hưởng đến 1,7 triệu ha ở đồng bằng sông Cửu Long.

Điều này một phần là do đất đai bằng phẳng, phổ biến trong vùng đồng bằng với chiều cao trung bình ít hơn 2 m trên mực nước biển (Wassmann, 2004). Nồng độ mặn trong nước ngọt bị ảnh hưởng cao nhất là gần biển với một số khu vực bị ảnh hưởng quanh năm và một số vùng chỉ vào những thời điểm nhất định trong năm (Kotera, 2008). Do đó, nồng độ mặn cũng phụ thuộc vào những thay đổi theo mùa. Ở Việt Nam, mùa khô kéo dài từ tháng X hoặc tháng XII đến tháng IV và mùa mưa từ tháng V đến tháng X hoặc tháng XI.

Mưa lớn trong mùa mưa có nghĩa là dòng chảy của sông Cửu Long sẽ có công suất xả nước tăng và cản trở thêm sự xâm nhập của nước mặn (MRC, 2008). Các yếu tố khác ảnh hưởng đến số lượng xâm nhập mặn là gió và các đặc tính như độ sâu của cửa sông. Kênh mương được sử dụng ví dụ cấp thoát nước cũng cho phép sự xâm nhập thêm từ các nhánh chính của đồng bằng (Hashimoto, 2001). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Đặc điểm xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long 1. Phân vùng xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long Trong mùa khô, khoảng 2,1 triệu ha ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn bao gồm 4 vùng như sau: - Vùng cửa sông Cửu Long: Độ dốc lòng sông nhỏ, sông rộng và sâu, địa hình khá bằng phẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho nước mặn xâm nhập sâu vào dòng chính và kênh rạch nội đồng. Độ mặn ở biển Đông địa phận Việt Nam trong khoảng 32 - 33 g/l, tại các cửa sông do tiếp nhận nguồn nước ngọt nên độ mặn được pha loãng. Từ số liệu đo mặn qua các năm, xu thế chung độ mặn xâm nhập vào toàn vùng tăng dần từ tháng 2 đến tháng 4 và một vài ngày đầu tháng 5.

Giữa và cuối tháng 5 và 6 độ mặn giảm nhanh trên toàn bộ vùng cửa sông trải rộng trên dải đất từ Gò Công tới Sóc Trăng. - Vùng hai sông Vàm Cỏ: Chế độ thủy văn cả hai sông chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy triều biển Đông là chính. Mùa cạn lượng nước từ thượng nguồn (biên giới Việt Nam - Campuchia) chảy về đồng bằng nhỏ đã tạo cho thủy triều xâm nhập sâu vào nội đồng. Nguồn xâm nhập mặn từ biển Đông vào trong vùng phụ thuộc rất nhiều vào lượng mưa đầu vụ, sử dùng nước trong khu vực, lượng nước từ sông Tiền chảy vào Vàm Cỏ Tây qua hệ thống kênh trục như Hồng Ngự, Tân Thạnh - Lò Gạch, Đồng Tiến Lagrange.

Thời gian mặn nhất thường xuất hiện vào tháng 3, 4 và đầu tháng 5. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Vùng ven biển Tây: Khu vực từ Cái Sắn đến Hà Tiên chịu ảnh hưởng trực tiếp triều biển Tây lại có nước sông Hậu bổ sung nên khi triều lên độ mặn lớn, khi triều xuống độ mặn giảm. Biên độ mặn lớn. Xâm nhập mặn ở 3 vị trí tiêu biểu của khu vực nhìn chung tăng dần từ tháng 3 sang tháng 4 hàng năm.

Khu vực từ kênh Cái Sắn đến sông Cái Lớn chịu ảnh hưởng trực tiếp triều biển Tây, nước sông Hậu bổ sung nhiều so với khu vực 1 nên mặn được pha loãng. Biên độ mặn nhỏ. Độ mặn tăng dần từ tháng 2, hầu hết đạt cực đại vào tháng 3 và giảm mạnh vào tháng 4. Khu vực từ sông Cái Lớn đến sông Ông Đốc mang tính đặc thù của vùng ven biển Tây, chịu ảnh hưởng mặn từ biển Tây đặc biệt qua hệ thống sông Cái Lớn, sông Ông Đốc và mặn bổ sung sang từ phía Bắc kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, diễn biến mặn ở đây khá phức tạp, biến đổi không theo xu hướng chung trong vùng ven biển Tây.

- Vùng trung tâm bán đảo Cà Mau: Nguồn nước mặn chính xâm nhập vào các kênh rạch vùng trung tâm bán đảo Cà Mau là từ phía biển Đông thông qua sông Mỹ Thanh, Gành Hào và nguồn mặn xâm nhập từ phía biển Tây qua sông Ông Đốc, sông Cái Lớn, Cái Bé và các kênh Rạch Sỏi, Nước Mặn, Chắc Băng, Cán Gáo. Khu vực tỉnh Sóc Trăng được tiếp ngọt từ sông Hậu với một số đê, cống ngăn mặn được xây dựng. Trong mùa khô, lượng mưa đầu mùa đến sớm vào cuối tháng 3, đầu tháng 4, tổng lượng phân bố đều theo thời gian. Khu vực Quản Lộ - Phụng Hiệp xa nguồn nước ngọt từ sông Hậu, hệ thống công trình thủy lợi đã và đang được xây dựng, bước đầu đi vào hoạt động.

Diễn biến nồng độ mặn qua một số năm đều cho trị số cao hơn khu vực tỉnh Sóc Trăng và diễn biến bất lợi hơn. Nguồn xâm nhập mặn vào khu vực từ nhiều phía, nồng độ mặn đo được qua các tháng 3, 4 ở mức cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Phân vùng xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện qua Hình 1.1 Phân vùng xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long Nguồn: Bản đồ phục vụ nghiên cứu - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (2012) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Diễn biến xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long Toàn bộ diện tích tự nhiên của 8 tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long là 2,93 triệu ha.

Trước đây diện tích bị xâm nhập mặn ở vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long ở mức 1 g/l là 2,2 triệu ha, mức 4 g/l là 1,7 triệu ha, đến năm 2000 đã giảm và đang biến đổi cho đến nay do sự phát triển hạ tầng thủy lợi và thay đổi mô hình canh tác. Những năm gần đây việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở vùng ven biển từ trồng lúa sang nuôi tôm một cách tự phát trên diện rộng đã làm cho bức tranh xâm nhập mặn ven biển đồng bằng sông Cửu Long trở nên phức tạp, nhiều nơi nằm ngoài sự kiểm soát và tiềm ẩn các hậu quả xấu về môi trường. Diễn biến độ mặn qua các tháng mùa khô từ năm 2004 đến 2012 ở 8 tỉnh ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện qua bảng 1.1 Diễn biến độ mặn qua các năm vùng ven biển ĐBSCL Trung Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm bình Tỉnh 2004 2007 2008 2009 2010 2011 2012 các năm Long An 5,55 4,37 2,97 3,50 5,52 5,12 2,67 4,24 Tiền Giang 7,70 6,85 5,35 6,55 6,61 7,25 6,72 Bến Tre 12,85 8,50 8,64 9,70 11,90 10,99 6,36 9,85 Trà Vinh 7,35 4,35 4,53 3,95 5,82 5,91 2,33 4,89 Sóc Trăng 8,66 5,26 4,20 3,62 6,37 5,46 2,70 5,18 Kiên Giang 7,27 3,70 4,03 5,27 6,78 4,00 4,57 5,09 Bạc Liêu 28,70 25,90 25,10 24,30 28,90 26,55 23,20 26,09 Cà Mau 29,93 22,75 23,90 21,30 30,22 25,59 24,75 25,49 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Báo cáo giám sát mặn hàng năm - Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Những năm gần đây, tình hình xâm nhập mặn biến động phức tạp qua các năm. Chu kỳ năm mặn nặng rút ngắn và độ mặn bình quân của những năm về sau có xu hướng tăng cao so với giai đoạn trước.

Từ năm 1998 Đồng bằng sông Cửu Long bị xâm nhập mặn nặng cho đến năm 2004 mới tái diễn với độ mặn trung bình vùng ven biển là 10,17 g/l. Các năm 2005 đến 2007 tình hình xâm nhập mặn giảm cho đến năm 2008 độ mặn trung bình lại tăng lên 7,48 g/l và năm 2010 độ mặn trung bình cao xấp xỉ mức 2004 (9,39 g/l), sau đó giảm nhẹ ở năm 2011 và 2012. Tuy chưa có số liệu chính thức nhưng thống kê sơ bộ tình hình xâm nhập mặn năm 2013 lại tái diễn ở mức xấp xỉ năm 2010. Năm 2010 là một trong những năm Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng xâm nhập mặn.

Độ mặn tăng cao có lúc lên 35,2 g/l (Trạm Cà Mau - tháng 5). Đợt mặn tháng 3 (độ mặn trung bình toàn vùng lên đến 12,41 g/l) làm thiệt hại 100.000 ha lúa Đông Xuân ở các tỉnh ven biển. Số liệu độ mặn các tháng mùa khô tại các trạm ven biển Đồng bằng sông Cửu Long được trình bày ở Phụ lục 1. Dự báo xâm nhập mặn đến năm 2050 Theo tính toán của Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam trong Quy hoạch tổng thể thủy lợi Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu - nước biển dâng có 3 kịch bản được đưa ra.

Diện tích xâm nhập mặn theo cấp độ mặn đến năm 2050 được dự báo trong bảng 1.2 trang sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tổng hợp diện tích xâm nhập mặn theo các cấp độ mặn (ha) Trường hợp Cấp độ mặn (g/l) Hiện trạng KB I KB II KB III 0-1 1.830 Tổng diện tích 4.900    T©n An  T©n An  Cao L·nh  Cao L·nh     Mü Tho Mü Tho  VÜnh Long  BÕn Tre  VÜnh Long  BÕn Tre  R¹ch GI¸  CÇn Th¬  R¹ch GI¸  CÇn Th¬  Trµ Vinh  Trµ Vinh  VÞ Thanh  VÞ Thanh BIEÅN TAÂY BIEÅN TAÂY  Sãc Tr¨ng  Sãc Tr¨ng  B¹c Liªu  B¹c Liªu  Cµ Mau BIEÅN ÑOÂNG  Cµ Mau BIEÅN ÑOÂNG Thang ñoä maën (g/l) Thang ñoä maën (g/l) 0 1 2 4 8 12 20 24 > 24 0 1 2 4 8 12 20 24 > 24 Hiện trạng xâm nhập mặn ĐBSCL Xâm nhập mặn ĐBSCL năm 2050 Hình 1.2 Diện tích xâm nhập mặn theo độ mặn đến năm 2050 Nguồn: Báo cáo Quy hoạch thủy lợi tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH – NBD – Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan về vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long 1. Điều kiện tự nhiên 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ