Tổng quan nghiên cứu

Thương mại quốc tế của Việt Nam giai đoạn 1991 - 2000 đã ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng với tốc độ bình quân đạt 21,5%/năm. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 16,5 tỷ USD, tăng gấp 6,87 lần so với mức 2,4 tỷ USD của năm 1990, và tiếp tục chạm mốc 19,87 tỷ USD vào năm 2003. Trong bức tranh phát triển ngoại thương đầy năng động đó, khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm từ 80% đến 85% tổng số đơn vị đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu trên cả nước. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này vẫn đang đối mặt với những hạn chế cố hữu về quy mô vốn, công nghệ lạc hậu và năng lực tiếp cận thị trường toàn cầu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và năng lực cạnh tranh còn non trẻ của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Mục tiêu cụ thể của đề tài là phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu của khối doanh nghiệp này trong tiến trình đổi mới, dự báo những tác động hai chiều gồm cả cơ hội lẫn thách thức khi thực thi các cam kết đa phương, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trên phạm vi toàn quốc, dựa trên chuỗi số liệu thực chứng từ năm 1990 đến năm 2003 và định hướng chiến lược đến năm 2010. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu 15%/năm, hướng tới cột mốc 62,7 tỷ USD tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ vào năm 2010, nâng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trên GDP từ 51,3% năm 2000 lên mức 103,5% vào năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo và lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter. Hai lý thuyết kinh điển này giải thích cách thức một quốc gia đang phát triển có thể tận dụng chi phí nhân công và tài nguyên thiên nhiên trong ngắn hạn, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cấp năng lực công nghệ, chất lượng thể chế và liên kết ngành để tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững trong dài hạn. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết Hội nhập kinh tế quốc tế và Thương mại đa biên để phân tích các quy luật vận động của dòng chảy thương mại tự do dưới sự điều tiết của 16 hiệp định thương mại cốt lõi trong hệ thống thương mại thế giới.

Mô hình nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của 5 nguyên tắc pháp lý căn bản gồm: Thương mại không phân biệt đối xử với quy chế Đối xử tối huệ quốc và Đối xử quốc gia, Tạo dựng nền tảng thương mại minh bạch ổn định, Tự do hóa thương mại thông qua cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan, Cạnh tranh bình đẳng chống bán phá giá và trợ cấp, cùng Quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nền kinh tế đang phát triển.

Hệ thống khái niệm chính được chuẩn hóa theo khung pháp lý Việt Nam và quốc tế, bao gồm định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP với tiêu chí vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc lao động không quá 300 người, các hình thức xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp, các rào cản kỹ thuật trong thương mại, và các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Bộ Thương mại, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cùng Báo cáo rà soát 263 văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp. Dữ liệu khảo sát thực tế được trích xuất từ các cuộc điều tra doanh nghiệp của cơ quan xúc tiến thương mại quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm phương pháp thống kê mô tả, phương pháp loại trừ vĩ mô để bóc tách kim ngạch đóng góp của khối doanh nghiệp nhỏ ra khỏi các tập đoàn nhà nước lớn, phương pháp phân tích so sánh đối chiếu và phương pháp dự báo kinh tế lượng.

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu khảo sát gồm 500 doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên phạm vi cả nước. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, da giày, nông lâm thủy sản, thủ công mỹ nghệ và theo quy mô nguồn vốn đăng ký. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác cơ cấu thực tế của nền kinh tế, hạn chế sự sai lệch số liệu khi bóc tách phần đóng góp gián tiếp rất lớn của các cơ sở sản xuất nhỏ ẩn dưới danh nghĩa xuất khẩu của các tổng công ty nhà nước. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và xử lý số liệu được thực hiện xuyên suốt từ chuỗi thời gian 1991 - 2003 và xây dựng kịch bản dự báo tác động cho giai đoạn 2004 - 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, số lượng doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu tăng trưởng nhảy vọt nhưng tỷ trọng xuất khẩu trực tiếp còn rất khiêm tốn. Sau khi cơ chế thương mại được thông thoáng hóa qua Nghị định 57/1998/NĐ-CP và Luật Doanh nghiệp năm 2000, số lượng doanh nghiệp đăng ký xuất nhập khẩu tăng từ khoảng 4.000 đơn vị trước năm 1998 lên 13.000 đơn vị vào cuối năm 2000 và vượt mức 20.000 doanh nghiệp vào năm 2003. Mặc dù khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm từ 80% đến 85% tổng số lượng doanh nghiệp này, kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của họ chỉ đóng góp từ 15% đến 17% tổng kim ngạch quốc gia. Con số này thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ đóng góp từ 30% đến 45% xuất khẩu trực tiếp của các doanh nghiệp cùng quy mô tại 4 quốc gia được Trung tâm Thương mại Quốc tế điều tra.

Thứ hai, nội lực tài chính và quy mô vốn của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ ở mức báo động. Theo thống kê, có tới 65% số doanh nghiệp nhỏ có quy mô vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng. Tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 74% trong khu vực doanh nghiệp nhà nước và trên 90% trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Tình trạng thiếu hụt vốn lưu động, thời hạn vay vốn ngân hàng quá ngắn và lãi suất thương mại cao khiến doanh nghiệp khó có khả năng đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ.

Thứ ba, mức độ sẵn sàng và hiểu biết về luật chơi thương mại quốc tế còn rất thấp. Kết quả điều tra thực chứng ghi nhận có 31% doanh nghiệp hoàn toàn chưa biết thông tin về tiến trình đàm phán gia nhập thương mại đa phương, 45% doanh nghiệp thừa nhận không có bất kỳ kế hoạch chuẩn bị nào, và 90% doanh nghiệp thiếu hụt kinh nghiệm giao thương trên thương trường quốc tế.

Thứ tư, cơ cấu hàng xuất khẩu đang chuyển dịch tích cực nhưng vẫn thâm dụng lao động giá rẻ và xuất khẩu thô. Tỷ trọng hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đã tăng từ 38,3% năm 2002 lên 43% năm 2003. Trong giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhiều mặt hàng thuộc khu vực sản xuất nhỏ đạt mức rất cao như hàng thủ công mỹ nghệ tăng 29%, rau quả tăng 30,6%, giày dép tăng 36,8%, cao hơn 1,4 đến 1,5 lần mức tăng bình quân toàn ngành. Dù vậy, chỉ số năng lực cạnh tranh tổng thể của Việt Nam năm 2001 vẫn xếp vị trí 62 trên 78 nền kinh tế được Diễn đàn Kinh tế Thế giới đánh giá.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trên xuất phát từ sự bất bình đẳng kéo dài trong việc tiếp cận các nguồn lực sản xuất giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp dân doanh. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn trong việc đáp ứng tài sản thế chấp ngân hàng, thiếu hệ thống thông tin thị trường cập nhật, và thiếu nguồn nhân lực được đào tạo bài bản về nghiệp vụ ngoại thương, giao nhận, sở hữu trí tuệ và kiểm định chất lượng. Khi so sánh với mô hình phát triển xuất khẩu dựa trên mạng lưới doanh nghiệp nhỏ cực kỳ linh hoạt của Đài Loan, các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu tính liên kết chuỗi và chủ yếu làm gia công vệ tinh bị động cho các tổng công ty lớn như Vinacafe, Vinatea hay Seaprodex.

Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm có thể được trình bày một cách trực quan qua biểu đồ đường kết hợp cột chồng để mô tả tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 1991 - 2003 cùng sự chuyển dịch tỷ trọng giữa hàng chế biến và hàng thô. Đồng thời, một bảng ma trận so sánh chi tiết giữa các rào cản kỹ thuật của thị trường nhập khẩu và năng lực đáp ứng của doanh nghiệp nội địa sẽ làm nổi bật khoảng cách về tiêu chuẩn chất lượng.

Những phân tích này mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc, chỉ ra rằng việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế với cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu bình quân xuống 22% và mở cửa 10 ngành dịch vụ sẽ tạo ra một cuộc sàng lọc tự nhiên khốc liệt. Nếu không có giải pháp nâng cao nội lực kịp thời, nguy cơ giải thể hàng loạt và gia tăng tỷ lệ lao động mất việc làm tại các doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng là hoàn toàn hiện hữu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và minh bạch hóa hệ thống pháp luật kinh tế quốc gia. Bộ Tư pháp cần phối hợp với các bộ ngành đẩy nhanh lộ trình rà soát, tiến hành sửa đổi 52 văn bản quy phạm pháp luật không tương thích và ban hành mới 42 văn bản khác trong giai đoạn 2004 - 2005. Trọng tâm là sửa đổi Luật Thương mại năm 2004, khẩn trương ban hành Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh Thương mại điện tử và các quy định về biện pháp tự vệ thương mại, chống bán phá giá, chống trợ cấp nhằm tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp trong nước.

Thứ hai, thành lập Hội đồng Phát triển Xuất khẩu Quốc gia nhằm thống nhất đầu mối điều hành chính sách. Chính phủ cần thành lập hội đồng bao gồm từ 25 đến 30 thành viên do Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại làm Chủ tịch, với sự tham gia của đại diện giới hiệp hội và doanh nghiệp trong năm 2004. Đồng thời, tiến hành kiện toàn bộ máy Cục Xúc tiến Thương mại theo mô hình cơ quan xúc tiến thương mại tiên tiến của Thái Lan, nâng cao hiệu quả các chương trình nghiên cứu thị trường và kết nối giao thương quốc tế.

Thứ ba, thiết lập cơ chế tín dụng ưu đãi và Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần hiện thực hóa các nội dung hỗ trợ tài chính theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP, đa dạng hóa các sản phẩm cho vay tín chấp theo chu kỳ đơn hàng xuất khẩu, phấn đấu nâng tỷ lệ tiếp cận nguồn vốn chính thức của doanh nghiệp nhỏ từ mức dưới 40% lên trên 65% vào năm 2006, giảm chi phí vốn trung bình từ 2% đến 3% mỗi năm.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo nguồn nhân lực và chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật. Cục Xúc tiến Thương mại chủ trì tổ chức các khóa tập huấn thường niên nhằm giảm tỷ lệ doanh nghiệp không nắm rõ thông tin hội nhập từ 31% xuống dưới 5% vào năm 2006. Các hiệp hội ngành hàng cần hỗ trợ hội viên áp dụng quy trình kiểm soát vệ sinh dịch tễ và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, giúp trên 80% doanh nghiệp xuất khẩu nông lâm thủy sản và tiểu thủ công nghiệp chủ động vượt qua các rào cản kỹ thuật tại các thị trường khó tính như Mỹ, EU và Nhật Bản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các chủ doanh nghiệp, nhà sáng lập và cán bộ quản trị tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang hoặc có định hướng tham gia xuất nhập khẩu. Luận văn cung cấp bức tranh toàn diện về các hiệp định thương mại, các quyền tự vệ chính đáng và định hướng tái cơ cấu sản phẩm nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý và nâng cao hiệu quả xuất khẩu trực tiếp.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cùng các cơ quan quản lý nhà nước. Công trình mang lại căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng chiến lược xuất khẩu quốc gia, hoàn thiện quy định pháp luật và thiết kế các gói trợ giúp doanh nghiệp phù hợp với các cam kết đa phương.

Nhóm thứ ba là các tổ chức hỗ trợ thương mại, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các hiệp hội ngành hàng. Tài liệu là tài liệu hướng dẫn thiết thực để thiết kế các dịch vụ hỗ trợ thông tin, tư vấn tiếp cận thị trường và hỗ trợ kỹ thuật theo nhu cầu cấp thiết của hội viên.

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Kinh doanh quốc tế và Quản trị kinh doanh. Luận văn đóng vai trò là một tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống dữ liệu thực chứng phong phú và phương pháp tiếp cận đa chiều về tiến trình hội nhập thương mại.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ Việt Nam được hưởng những lợi thế cốt lõi nào khi tham gia sân chơi thương mại toàn cầu?

Doanh nghiệp được hưởng lợi trực tiếp từ nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc, giúp các đối tác thương mại phải áp dụng mức thuế quan thấp nhất và xóa bỏ các hạn chế định lượng đối với hàng hóa Việt Nam. Ngoài ra, việc chi phí dịch vụ logistics, viễn thông và tài chính ngày càng cạnh tranh giúp doanh nghiệp nhỏ giảm thiểu chi phí giao dịch quốc tế một cách rõ rệt.

Tại sao tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chỉ đạt từ 15% đến 17% tổng kim ngạch?

Nguyên nhân căn bản là do 65% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng, công nghệ chế biến thô sơ và thiếu kênh phân phối ở nước ngoài. Phần lớn hàng hóa nông lâm thủy sản và may mặc phải xuất khẩu gián tiếp qua các tổng công ty nhà nước lớn để tận dụng hạn ngạch và quan hệ bạn hàng sẵn có.

Doanh nghiệp nhỏ cần chuẩn bị những gì để vượt qua các rào cản kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ của thị trường quốc tế?

Doanh nghiệp cần chủ động cập nhật các quy định trong Hiệp định Hàng rào kỹ thuật và Hiệp định Các biện pháp vệ sinh kiểm dịch của tổ chức thương mại quốc tế. Việc đầu tư chuẩn hóa quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế và tăng cường liên kết với các viện kiểm định chất lượng trong nước là giải pháp then chốt để tránh rủi ro bị từ chối đơn hàng.

Nghị định 90/2001/NĐ-CP đã mang lại những cơ chế hỗ trợ đột phá nào cho các đơn vị sản xuất nhỏ?

Nghị định lần đầu tiên đưa ra định nghĩa pháp lý rõ ràng về doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên tiêu chí 10 tỷ đồng vốn hoặc 300 lao động. Đồng thời, văn bản quy định việc thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu và trợ cấp một phần chi phí cho doanh nghiệp tham gia khảo sát thị trường, hội chợ triển lãm xúc tiến thương mại quốc tế.

Mục tiêu chiến lược xuất khẩu tổng thể của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 được xác định như thế nào?

Chiến lược đề ra mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân 15%/năm, nâng giá trị từ 14,3 tỷ USD năm 2000 lên 54,6 tỷ USD vào năm 2010. Tổng kim ngạch cả hàng hóa và dịch vụ phấn đấu đạt 62,7 tỷ USD vào năm 2010, chiếm tỷ trọng 103,5% GDP của nền kinh tế.

Kết luận

  • Xuất khẩu Việt Nam đã duy trì mức tăng trưởng ấn tượng 21,5%/năm trong thập niên 1990 và đạt 19,87 tỷ USD vào năm 2003, khẳng định đường lối đổi mới và mở cửa kinh tế đúng đắn của Nhà nước.
  • Khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 80% lực lượng doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhưng đối mặt với điểm nghẽn nghiêm trọng về quy mô vốn khi 65% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và chỉ đóng góp 15% đến 17% kim ngạch xuất khẩu trực tiếp.
  • Mức độ chuẩn bị hội nhập còn hạn chế với 31% doanh nghiệp chưa nắm rõ lộ trình tham gia thương mại toàn cầu và 90% thiếu kinh nghiệm thương trường quốc tế, đòi hỏi công tác đào tạo và thông tin phải được đẩy mạnh khẩn cấp.
  • Việc thực thi các nguyên tắc thương mại đa phương mở ra cơ hội tiếp cận thị trường toàn cầu bình đẳng nhưng đặt ra sức ép cải cách thể chế to lớn, đòi hỏi phải rà soát và điều chỉnh 52 văn bản luật pháp chưa tương thích.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ bao gồm thành lập Hội đồng Phát triển Xuất khẩu Quốc gia, vận hành Quỹ bảo lãnh tín dụng và đổi mới công tác xúc tiến thương mại là điều kiện tiên quyết giúp doanh nghiệp nhỏ vượt qua thách thức cạnh tranh.

Đóng góp khoa học và thực tiễn lớn nhất của luận văn là đã lượng hóa chi tiết vai trò xuất khẩu gián tiếp của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời xây dựng một khung giải pháp toàn diện kết hợp giữa điều chỉnh chính sách vĩ mô và nâng cao năng lực quản trị vi mô. Lộ trình triển khai tiếp theo cần tập trung hoàn thiện chương trình lập pháp trong giai đoạn 2004 - 2005 và tăng tốc các phiên đàm phán song phương với gần 20 đối tác quốc tế.

Các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp hành động ngay từ hôm nay để tận dụng tối đa những vận hội lịch sử, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập thành công và vững chắc vào dòng chảy thương mại thế giới.