Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Vốn sở hữu nước ngoài. Với việc đặt hai vấn đề về chính sách quản trị ngân hàng trong bài nghiên cứu “Tác động của việc tham gia ngân hàng nước ngoài lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trung Quốc”, bao gồm đầu tiên, có hay không sự ảnh hưởng tích cực của chính sách mở cửa đến ngành công nghiệp ngân hàng trong nước, nhằm giúp cho các nhà hoạch địch chính sách hiểu rõ hơn tác động của sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài, từ đó xem xét Trung Quốc nên tiếp tục hay dừng việc mở cửa thị trường tài chính ngân hàng; vấn đề thứ hai đó là tỷ lệ phần trăm vốn cổ phần của các cổ đông nước ngoài có ảnh hưởng đến hiệu suất ngân hàng nội địa hay không nhằm đưa ra quyết định có cần thiết nới lỏng hoặc thậm chí loại bỏ các hạn chế tỷ lệ phần trăm cổ phần nước ngoài không, Shen, Lu và Wu (2009) đã định nghĩa vốn sở hữu nước ngoài theo 2 hình thức sau: - Đối với cấp độ ngành: Vốn sở hữu nước ngoài là tỷ lệ phần trăm của số lượng các ngân hàng trong nước với sự tham gia của các cổ đông nước ngoài trên tổng số các ngân hàng trong một nước. Tỷ trọng này được gọi là hệ số MacroFP.
MacroFP được sử dụng để giải quyết vấn đề đầu tiên liên quan đến sự mở cửa của thị trường ngân hàng, nhằm đánh giá tác động của sự thâm nhập nguồn vốn nước ngoài đến ngành công nghiệp ngân hàng địa phương. Tác động tích cực có thể kể đến như chuyển giao công nghệ, đổi mới, phát triển sản phẩm, cạnh tranh lành mạnh trong hệ thống giúp các ngân hàng trong nước nâng cao hiệu quả và lợi nhuận hoạt động. Ngược lại, việc cạnh tranh quá mức có khả năng dẫn đến sự bất ổn tài chính trong ngành ngân hàng. - Đối với cấp độ ngân hàng: Vốn sở hữu nước ngoài là tỷ lệ phần trăm cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào một ngân hàng, được gọi là hệ số MicroFP.
MicroFP được sử dụng để giải quyết vấn đề thứ hai liên quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- đến sự ảnh hưởng của tỷ lệ phần trăm cổ phần các cổ đông nước ngoài, nhằm đánh giá hiệu quả của vốn sở hữu nước ngoài tác động lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nước. Mặc dù các nhà đầu tư ngoại có thể cung cấp những công nghệ mới, giới thiệu các kỹ năng quản lý tiên tiến, khái niệm quản trị mới (Liu và cộng sự, 2007), nhưng mục tiêu giữa FSI và ngân hàng địa phương là khác nhau. Ví dụ: FSI tập trung vào mục tiêu duy nhất tối đa hóa lợi nhuận, trong khi các ngân hàng nội địa có nhiều mục tiêu như phúc lợi xã hội, chính sách cho vay (Shen, Lu, Wu, 2009). Ngoài ra, xung đột văn hóa có thể dẫn đến thất bại trong việc phối hợp, hợp tác (Hawes và Chiu, 2007) Tương tự như trường hợp của Shen, Lu và Wu (2009), với việc sử dụng mẫu dữ liệu nghiên cứu là những ngân hàng có vốn sở hữu nước ngoài trên mức tỷ lệ 10% trong danh sách vốn sở hữu được công bố và có những ảnh hưởng nhất định đến quyết định điều hành trong quản trị ngân hàng, bài nghiên cứu của Susanto và Rokhim (2011) đã tiếp cận vốn sở hữu nước ngoài theo hai cấp độ ngành và ngân hàng nêu trên, cụ thể các tác giả đã sử dụng tỷ lệ FO thu được từ tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ bởi các nhà đầu tư nước ngoài trên tổng số cổ phiếu nhằm phản ánh mức độ kiểm soát sở hữu của bên nước ngoài.
Đồng thời tác giả cũng xem xét tỷ lệ số lượng các ngân hàng nước ngoài trên tổng số lượng ngân hàng của hệ thống ngân hàng Indonesia để thực hiện nghiên cứu. Đối với các tác giả Claessens, Demirguc – Kunt và Huizinga (2001) lại sử dụng định nghĩa sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài bằng tỷ lệ phần trăm của các ngân hàng nước ngoài trên tổng số ngân hàng trong một quốc gia, trong đó, một ngân hàng được xem là ngân hàng nước ngoài khi có cổ phần do người nước ngoài nắm giữ vượt quá 50% cấu trúc sở hữu. Trong khi đó, bài nghiên cứu của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999) sử dụng định nghĩa vốn sở hữu nước ngoài theo cấp độ ngân hàng để đánh giá hiệu quả của các ngân hàng trong nước ở các nước đang phát triển và cho rằng ngân hàng có tỷ lệ phần trăm cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài cao hơn thì sẽ có lợi nhuận cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- hơn các ngân hàng trong nước. Còn đối với các nước phát triển, lại cho kết quả ngược lại.
Với việc định nghĩa tương tự như Demirguc – Kunt và Huizinga (1999), Shen, Lu và Wu (2009) ở cấp độ ngân hàng, Lensink và Naaborg (2007) lại nhận thấy rằng sự gia tăng của MicroFP làm ảnh hưởng một cách tiêu cực đến hiệu suất ngân hàng, bất kể trình độ phát triển của quốc gia. Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết lợi thế sân nhà. Để đánh giá tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam được đầy đủ theo cả hai khía cạnh vĩ mô và vi mô, bài luận văn đã tiếp nối kết quả nghiên cứu của Shen, Lu và Wu (2009) để định nghĩa vốn sở hữu nước ngoài bằng cách sử dụng tỷ lệ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong một ngân hàng trên tổng số cổ phần của ngân hàng đó, ký hiệu là MicroFP, được dùng ở cấp độ ngân hàng. Đồng thời bài luận văn cũng xem xét sử dụng tỷ lệ số lượng các ngân hàng Việt Nam có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên tổng số các ngân hàng Việt Nam, ký hiệu là MacroFP, để dùng ở cấp độ ngành.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả hoạt động có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: i. Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra, hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác; ii. Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng.
Theo định nghĩa trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh- Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh, hiệu quả hoạt động trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Như vậy có thể hiểu hiệu quả là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- mức độ thành công mà các doanh nghiệp hay ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó. Theo Mishkin (2007), để hiểu một ngân hàng đang hoạt động tốt như thế nào, chúng ta cần phải bắt đầu bằng cách nhìn vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mô tả của các nguồn thu nhập và các chi phí có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để đo lường, đánh giá hiệu quả của một ngân hàng, tùy thuộc vào mục tiêu quan tâm của các cổ đông có thể phân ra ba phương pháp: phương pháp đo lường theo cách truyền thống, phương pháp đo lường theo cách kinh tế và phương pháp đo lường căn cứ vào thị trường (Beyond Roe, 2010).
Phương pháp đo lường theo cách truyền thống. Phương pháp này được áp dụng tương tự như các ngành công nghiệp khác, sử dụng các chỉ số Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) được sử dụng rộng rãi nhất. Ngoài ra, thu nhập từ lãi biên (NIM) cũng là một chỉ số trung gian được áp dụng nhằm đo lường hiệu quả của ngân hàng. - Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng trong năm chia cho bình quân tổng tài sản, dùng đo lường khả năng sinh lợi trên 1 đơn vị vốn đầu tư vào công ty: (1.1) - Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của 1 đơn vị vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty, đây cũng là biện pháp được sử dụng phổ biến để đo lường hiệu quả của ngân hàng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4) (1) (2) (3) (Theo phân tích Dupont các tỷ số tài chính) Trong đó: (1) thể hiện việc tăng tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (2) thể hiện việc sử dụng hiệu quả tài sản hiện có (3) thể hiện việc gia tăng đòn bẩy tài chính - Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) là một chỉ số tài chính quan trọng, đặc biệt trong việc đánh giá hoạt động ngân hàng.
Nó cho thấy được mối tương quan giữa chi phí với thu nhập của ngân hàng đó. Tỷ lệ này cho nhà đầu tư một cái nhìn rõ hơn về hiệu quả hoạt động của tổ chức; tỷ lệ càng nhỏ thì ngân hàng đó càng hoạt động hiệu quả. Trong đó, chi phí hoạt động gồm chi phí quản lý và chi phí cố định như lương, chi mua tài sản cố định… không bao gồm các khoản nợ xấu, nợ khó đòi.5) - Thu nhập từ lãi biên (NIM) là một sự ủy nhiệm của các chức năng trung gian cho khả năng tạo ra thu nhập trong ngân hàng (1.6) Trong đó: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 10 - Thu nhập lãi thuần = Thu nhập cho vay và đầu tư chứng khoán - Chi trả lãi tiền gửi và nợ khác Tài sản có sinh lời là những tài sản mang lại lợi nhuận cho ngân hàng như cho vay khách hàng, các khoản đầu tư, cho vay liên ngân hàng, tiền gửi tại ngân hàng nhà nước; Theo như đánh giá của Standard & Poor, tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu của quản trị tốt tài sản Nợ - Có, trong khi NIM có xu hướng thấp và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại.