BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM --------------- Đặng Thị Thanh Thái TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh – Năm 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp. HCM --------------- Đặng Thị Thanh Thái TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI LÊN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH TP.
Hồ Chí Minh – Năm 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình. Hồ Chí Minh, ngày …. năm 2013 Tác giả DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tự do hóa thương mại lên xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại Bảng 2.2 Các thời kỳ tự do hóa thương mại giai đoạn 1986-2012 (Đo lường dựa trên nghiên cứu của Li (2004) và Wacziarg – Welch (2003)) Bảng 3.1 Danh sách các nước trong mẫu nghiên cứu Bảng 3.2 Nguồn dữ liệu các biến Bảng 4.1 Tỷ lệ xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại trên GDP trước và sau tự do hóa (Đo lường thời điểm tự do hóa theo nghiên cứu của Li (2004) giai đoạn 1986 đến 2011) Bảng 4.2 Tỷ lệ xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại trên GDP trước và sau tự do hóa (Đo lường thời điểm tự do hóa theo nghiên cứu của Wacziarg và Welch (2003) giai đoạn 1986 đến 2011) Bảng 4.3 Bảng tổng hợp tác động của tự do hóa thương mại lên xuất khẩu (2 cách đo lường thời điểm tự do hóa) Bảng 4.4 Tác động của tự do hóa thương mại lên xuất khẩu theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Li (2004) Bảng 4.5 Tác động của tự do hóa thương mại lên xuất khẩu theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Wacziarg và Welch (2003) Bảng 4.6 Bảng tổng hợp tác động của tự do hóa thương mại lên nhập khẩu (2 cách đo lường thời điểm tự do hóa) Bảng 4.7 Tác động của tự do hóa thương mại lên nhập khẩu theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Li (2004) Bảng 4.8 Tác động của tự do hóa thương mại lên nhập khẩu theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Wacziarg và Welch (2003) Bảng 4.9 Bảng tổng hợp tác động của tự do hóa thương mại lên cán cân thương mại (2 cách đo lường thời điểm tự do hóa) Bảng 4.10 Tác động của tự do hóa thương mại lên cán cân thương mại theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Li (2004) Bảng 4.11 Tác động của tự do hóa thương mại lên cán cân thương mại theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Wacziarg và Welch (2003) DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 2.1 Xu hướng thuế tối huệ quốc ở các nước đang phát triển theo từng khu vực Hình 2.2 Tình hình xuất khẩu của các khu vực trên Thế giới Hình 2.3 Tình hình nhập khẩu của các khu vực trên Thế giới 1 TÓM TẮT Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, các nước cũng dần tiến hành tháo gỡ các hàng rào mậu dịch của mình tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh tiến đến tự do hóa thương mại. Bằng cách sử dụng hai cách đo lường thời điểm tự do hóa theo Li (2004) và Wacziarg – Welch (2003), bài nghiên cứu tiến hành xem xét chiều hướng tác động của tự do hóa thương mại lên xuất khẩu, nhập khẩu và tổng thể cán cân thương mại.
Bài nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về tác động của tự do hóa thương mại lên nhập khẩu, xuất khẩu cũng như cán cân thương mại theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Li (2004). Kết quả bài nghiên cứu cũng không tìm thấy tác động có ý nghĩa thống kê của tự do hóa thương mại lên xuất khẩu các quốc gia theo cách đo lường thời điểm tự do hóa của Wacziarg – Welch (2003). Tuy nhiên, đối với hoạt động nhập khẩu, kết quả nghiên cứu cho thấy tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê của tự do hóa thương mại. Bài nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng cho rằng cán cân thương mại trở nên xấu hơn dưới tác động của tự do hóa thương mại ở các nước trong mẫu nghiên cứu.
GIỚI THIỆU Trong những năm qua, thương mại quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các nước, nó dần trở thành cầu nối gắn kết nền kinh tế một quốc gia với thế giới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực của mỗi quốc gia. Từ khoảng thế kỷ XVI, chủ nghĩa trọng thương đã đặc biệt coi trọng hoạt động thương mại mà trước hết là ngoại thương, nó được xem là nguồn gốc của sự giàu có. Tiếp theo đó, hàng loạt các nghiên cứu về sự cần thiết của hoạt thương mại quốc tế ra đời mà khởi nguồn là lý thuyết tuyệt đối của Adam Smith (1723-1790). Ông cho rằng các quốc gia nên sản xuất các mặt hàng có chi phí sản xuất thấp hơn các quốc gia khác để xuất khẩu và nhập khẩu các mặt hàng không có lợi thế.
Tuy nhiên, với những quốc gia không có lợi thế ở tất cả các mặt hàng thì lý thuyết của Adam Smith không thể lý giải được. Đó là nguồn gốc cho sự ra đời lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo. Theo ông, các quốc gia nên thực hiện chuyên môn hóa sản xuất các mặt hàng có mức độ bất lợi nhỏ hơn và nhập khẩu các mặt hàng có mức độ bất lợi lớn hơn. Giải thích của Ricardo góp phần lý giải cho sự hình thành thương mại quốc tế.
Kể từ đó, các nhà kinh tế học cũng ngày càng khẳng định tầm quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế. Một xu thế chủ đạo trong hoạt động thương mại quốc tế là vấn đề tự do hóa thương mại ở cả hai bình diện khu vực và quốc tế. Với sự ra đời của các tổ chức thương mại quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, Hiệp định thương mại tự do các nước ASEAN (AFTA) hay Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khối liên minh châu Âu EU,. cùng với các luật lệ, thông lệ kinh doanh quốc tế mà các nước thành viên phải tuân theo đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi, môi trường cạnh tranh công bằng hơn cho các quốc gia khi tham gia vào mậu dịch quốc tế.
3 “Tự do hóa thương mại là quá trình các quốc gia cắt giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cản thương mại, bao gồm quá trình cắt giảm các hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan, xóa bỏ phân biệt đối xử tạo lập sự canh tranh bình đẳng nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho thương mại phát triển” (TS. Bùi Thị Lý, 2010, trang 42). Tuy nhiên, quá trình tự do hóa thương mại ở mỗi quốc gia lại có những khác biệt cả về quy mô và mức độ tác động. Vậy liệu việc tham gia vào quá trình tự do hóa thương mại có luôn luôn cải thiện được cán cân thương mại của các quốc gia như kỳ vọng của những nhà làm chính sách hay không? Nó tác động đến hoạt động xuất khẩu của mỗi quốc gia như thế nào, nhập khẩu như thế nào? Chính vì vậy, bài nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm định tác động của tự do hóa thương mại lên xuất khẩu, nhập khẩu cũng như tổng thể cán cân thương mại của các nước đang phát triển.
Bài nghiên cứu tiến hành xem xét tác động của tự do hóa thương mại ở 25 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1986-2012 theo 2 cách đo lường thời điểm tự do hóa của Li (2004) và Wacziarg – Welch (2003). Sử dụng dữ liệu bảng và phương pháp System Generalized Method of Moments (GMM) để cho kết quả phù hợp hơn. Phần còn lại của bài nghiên cứu được chia bố cục như sau: Phần 2 tóm lược các kết quả nghiên cứu trước đây. Phần 3 thảo luận phương pháp nghiên cứu.
Các kết quả bài nghiên cứu sẽ được trình bày trong phần 4. Cuối cùng, phần 5 tóm lược các kết quả của bài nghiên cứu. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Tham gia vào thương mại quốc tế, các quốc gia không thể mở cửa hoàn toàn nền kinh tế của mình do những ảnh hưởng tiêu cực của nó, chính điều này buộc các quốc gia phải áp đặt các hàng rào mậu dịch để bảo hộ hoạt động thương mại của nước mình. Tuy nhiên, việc áp dụng này bên cạnh những lợi ích mang lại cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động thương mại của mỗi quốc gia.
Trong tiến trình tự do hóa thương mại, các nước dần giảm thiểu và xóa bỏ các hàng rào mậu dịch của mình. Qua đó, tính cạnh tranh giữa các quốc gia cũng ngày càng được nâng cao, các nước tham gia buôn bán, trao đổi hàng hoá với nhau nhiều hơn đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.1 Tình hình thuế quan của các khu vực và Thế giới thời gian qua: Theo Báo cáo thương mại Thế giới 2011 của World Bank (World Trade Report 2011), thuế đã giảm mạnh kể từ khi thiết lập Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) năm 1948 (đến 1995, GATT đổi thành WTO). Trước GATT, mức thuế trung bình giữa các nước có giao thương với nhau vào khoảng 20 đến 30%. Qua tám vòng đám phán thương mại đa phương, mức thuế giảm rõ rệt khi các nước trở thành thành viên của WTO.
Năm 2009, thuế trung bình cho tất cả hàng hóa và các quốc gia khoảng 4%. Tỷ lệ thuế áp dụng ở các nước phát triển ở mức thấp, trung bình khoảng 6% vào cuối những năm 1980, tiếp tục giảm và xấp xỉ 3% năm 2009.