chương I phần sau luận văn sẽ lần lượt trình bày chi tiết những nội dung: Chương II: Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm Chương III: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương IV: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương V: Kết luận và kiến nghị 5 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM Lý thuyết và thực nghiệm về mối liên kết giữa thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế đã được nghiên cứu rất nhiều bởi các nhà nghiên cứu kinh tế. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy mối quan hệ này khá đa dạng. Trong khi một số nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thì một số nghiên cứu khác lại cho rằng không tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hai yếu tố này. Một số quan điểm cho rằng, không phải cứ đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu sẽ đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, nếu các điều kiện khác không thay đổi hoặc một số điều kiện tiên quyết khác không được thỏa mãn.
Đã có không ít nghiên cứu chỉ ra vai trò mờ nhạt của xuất khẩu đối với tăng trưởng GDP ở một số quốc gia và nhóm quốc gia. Trên thực tế, chưa có một nghiên cứu nào chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Chỉ có một số ít nghiên cứu chỉ ra rằng không có mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. Các nhà kinh tế tân cổ điển cũng chỉ ra mối liên quan giữa mở rộng thương mại và tăng trưởng kinh tế.
Họ cho rằng tăng trưởng xuất khẩu là động lực chính của tăng trưởng kinh tế. Helpman and Krugman (1985) thừa nhận rằng tăng trưởng xuất khẩu nhanh sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc mở rộng quy mô và chuyên môn hóa sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật. Bhagwati (1988) đã hỗ trợ cho các lý thuyết tân cổ điển khi đề xuất lý thuyết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Ông cho rằng tăng trưởng kinh tế kích thích cả bên cung và bên cầu của nền kinh tế.
Bhagwati (1988) cũng lưu ý rằng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại, kinh tế tăng trưởng thúc đẩy việc hình thành kỹ năng cũng như tiến bộ công nghệ, cả hai yếu tố trên góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất và do đó tạo ra lợi thế so sánh cho đất nước. Easterly (2007) lập luận rằng xuất khẩu giúp thâm nhập vào thị trường quốc tế và mở rộng sản xuất quốc tế. Ngoài ra xuất khẩu làm tăng hiệu quả kinh tế thông qua việc phân bổ nguồn lực được tốt hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. 6 Theo Stiglitz (2007) cho rằng sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc và Ấn Độ chủ yếu là do mở rộng thương mại, chủ yếu là xuất khẩu.
Shan và Sun (1998) nghiên cứu giả thuyết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu cho Trung Quốc sử dụng dữ liệu hàng tháng và tìm thấy mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Ramos (2001), xem xét mối liên hệ giữa xuất khẩu, nhập khẩu và tăng trưởng GDP cho Bồ Đào Nha sử dụng phương pháp tiếp cận đa biến Johansen-Juselius. Ông đã tìm thấy quan hệ nhân quả hai chiều giữa GDP và xuất khẩu, GDP và nhập khẩu, nhập khẩu và tăng trưởng xuất khẩu. Mah (2005) sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL đã tìm ra mối quan hệ trong dài hạn và mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng GDP và tăng trưởng xuất khẩu tại Trung Quốc giai đoạn từ 1979 đến 2001. Ngoài ra, Tang (2006) xem xét các giả thuyết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu cho Trung Quốc sử dụng nhập khẩu như là một biến bổ sung.
Ông sử dụng phương pháp ARDL và cũng đã tìm thấy mối quan hệ giữa xuất khẩu, nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế. Awokuse (2007) tiếp tục kiểm tra mối quan hệ giữa xuất khẩu, nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế bằng phương pháp kiểm định nhân quả Granger. Ông đã tìm thấy giả thuyết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và xuất khẩu dựa vào tăng trưởng kinh tế tồn tại ở Bulgaria, quan hệ nhân quả một chiều từ xuất khẩu, nhập khẩu đến GDP trong trường hợp của Cộng hòa Séc, mô hình tăng trưởng dựa vào nhập khẩu cho Ba Lan… Sau đó, Herrerias và Orts (2009) khám phá những mối quan hệ giữa nhập khẩu, đầu tư, sản lượng và năng suất ở Trung Quốc. họ chỉ ra rằng trong thời gian dài cả nhập khẩu và đầu tư kích thích đầu ra và năng suất lao động, nhưng không tìm thấy quan hệ nhân quả giữa đầu tư và nhập khẩu.
Nghiên cứu của Ahmet Uğur (2008), nghiên cứu mối quan hệ giữa nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế trong trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ, thời gian nghiên cứu từ năm 7 1994 đến 2005. Sử dụng mô hình VAR cho kết quả rằng có mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nhập khẩu hàng hóa và nhập khẩu nguyên liệu. Nghiên cứu của Monica Ioana POP SILAGHI (2009), nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại các quốc giaTrung và Đông Âu bao gồm Bulgaria, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Romania, Slovenia,Slovakia trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2006. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình VAR và ECM.
Khi xem xét hệ thống hai biến trên, kết quả cho thấy có mối quan hệ từ xuất khẩu đến GDP trong trường hợp của Bulgaria, Cộng hòa Séc, Estonia, Latvia và Lithuania, quan hệ từ GDP đến xuất khẩu trong trường hợp của Bulgaria, Cộng hòa Séc, Republic, Estonia, Hungary, Lithuania, Romania và Slovenia. Katircioglu et al. (2010) sử dụng các phương pháp tiếp cận ARDL để kiểm tra một mối quan hệ lâu dài giữa thương mại và tăng trưởng kinh tế tại Island Fiji, Papua New Guinea và quần đảo Solomon. Họ thấy thu nhập thực tế kích thích tăng trưởng xuất khẩu ở Fiji, nhưng các giả thuyết tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và tăng trưởng dựa vào nhập khẩu không thể được tìm thấy đối với quần đảo và khu vực Thái Bình Dương.
Lee (2010) tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho giả thuyết ELG, GLE, ILG và GLI trong ngắn hạn nhưng về lâu dài ông không tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho giả thuyết ELG và ILG tại Pakistan. Shahbaz et al. (2011) sử dụng mô hình ARDL và ECM với các dữ liệu quý của Pakistan, tác giả nhận ra rằng xuất khẩu có tương quan tích cực với tăng trưởng kinh tế. Hye và Siddiqui (2011) tiếp tục kiểm tra mối quan hệ giữa xuất khẩu, thương mại và tăng trưởng kinh tế ở Pakistan sử dụng phương pháp ARDL.
Họ ghi nhận rằng xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng các điều khoản bất lợi thương mại tổn thương tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của M. Herrerias và Vicente Orts (2011) về mối quan hệ giữa nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc giai đoạn từ 1964 8 đến 2004. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả.
Qua phân tích thực nghiệm, tác giả nhận thấy rằng nhập khẩu là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Sumie Sato và Mototsugu Fukushige (2011), nghiên cứu cho nền kinh tế Bắc Triều Tiên trong khoảng thời gian từ năm 1964 đến 2008, nghiên cứu giả thuyết tăng trưởng dựa vào nhập khẩu. Bài nghiên cứu sử dụng kiểm định nhân quả Granger. Qua phân tích thực nghiệm, tác giả nhận thấy rằng có mối quan hệ nhận quả từ nhập khẩu đến tăng trưởng kinh tế trong khoảng thời gian nửa đầu giai đoạn nghiên cứu và từ tăng trưởng kinh tế đến nhập khẩu trong khoảng thời gian sau.
Điều này cho thấy Bắc Triều Tiên đã thoát khỏi tình trạng tăng trưởng dựa vào nhập khẩu. Hye (2012) tiếp tục kiểm tra các giả thuyết ELG, GLE, ILG, GLI và thâm hụt nước ngoài cho sự phát triển bền vững ở Trung Quốc sử dụng dữ liệu hàng năm. Các kết quả xác nhận một mối quan hệ lâu dài giữa tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế, nhập khẩu, xuất khẩu và nhập khẩu, họ ủng hộ tính hợp lý của các giả thuyết ELG, GLE, ILG và GLI. Nghiên cứu của Barbara Pistoresi, Alberto Rinaldi (2012) về mối quan hệ giữa xuất khẩu, nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Italy từ năm 1863 đến 2004, sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết và kiểm định nhân quả.
Kết quả cho thấy rằng có mối quan hệ giữa các biến trong dài hạn nhưng chiều quan hệ thì thay đổi theo thời gian. Trong giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tăng trưởng nhập khẩu sẽ thúc đẩy tăng trưởng GDP hơn là thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu. Nhưng đến giai đoạn hậu chiến tranh thế giới thứ hai chúng ta thấy rằng có mối quan hệ hai chiều một cách mạnh mẽ giữa xuất khẩu và nhập khẩu, bên cạnh đó nghiên cứu cũng tìm thấy sự gia tăng trong xuất khẩu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đến lượt tăng trưởng kinh tế thúc đẩy nhập khẩu, nhưng tác động này không mạnh mẽ. Điều này cho thấy rằng xuất khẩu không phải là động lực chính của tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu của Qazi Muhammad Adnan Hye và các cộng sự (2013), nghiên cứu giả thuyết tăng trưởng dựa vào thương mại, bằng chứng thực nghiệm tại các quốc 9 gia Nam Á. Trong nghiên cứu này nhóm tác giả sử dụng số liệu chuỗi thời gian từ năm 1971 đến 2009 cho Pakistan và Bangladesh, 1960 đến 2009 cho Ấn Độ và Sri Lanka, 1965 đến 2009 cho Nepal, 1981 đến 2009 cho Bhrutan. Sử dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ ARDL, kiểm định nhân quả Granger. Tác giả đã tìm thấy rằng mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu tồn tại ở tất cả các nước ngoại trừ Pakistan trong khi mô hình tăng trưởng dựa vào nhập khẩu thì tồn tại ở tất cả các quốc gia.
Mô hình tăng trưởng thúc đẩy xuất khẩu thì tồn tại ở tất các các quốc gia trừ Bangladesh và Nepal. Còn mô hình tăng trưởng thúc đẩy nhập khẩu và mô hình xuất khẩu nhập khẩu thì tồn tại ở tất cả các quốc gia trong mẫu. Kết quả cho thấy nhu cầu trong nước và nhu cầu ở nước ngoài đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm, phát hiện này chỉ ra tiềm năng cho sự tăng trưởng thông qua việc khai thác nhu cầu trong nước trong trường hợp suy thoái kinh tế toàn cầu. Nghiên cứu của Chaido Dritsaki (2013), nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và nợ của chính phủ cho trường hợp của Hy Lạp.