Chương 1: Tổng quan đề tài. Trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trình bày khái quát về mạng xã hội, các thành phần về năng lực truyền thông dựa vào máy tính, các yếu tố của vốn xã hội, các nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến truyền thông dựa vào máy tính, mạng xã hội và vốn xã hội.
Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết của mô hình. Chương 3: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương này sẽ mô tả quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo sơ bộ, phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo và các giả thuyết đã đề xuất. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Trình bày chi tiết kết quả kiểm định của mô hình và các giả thuyết, cũng như những giải thích cho kết quả đó. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tóm tắt các kết quả đạt được của đề tài, so sánh với các công trình trước đây, đề xuất một số hàm ý quản trị, hạn chế của đề tài cũng như đề xuất những hướng phát triển tiếp theo. Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Mạng xã hội và các yếu tố năng lực về truyền thông dựa vào máy tính Sự phát triển của công nghệ thông tin đã mang đến hàng loạt những tính năng và ứng dụng hữu ích trên môi trường Internet, trong đó nổi bật và có sức hút nhất có thể kể đến chính là mạng xã hội.
Mạng xã hội (Social network) là dịch vụ kết nối các thành viên có cùng sở thích trên Internet lại với nhau, không phân biệt không gian và thời gian, các thành viên tham gia mạng xã hội được gọi là cư dân mạng. Mạng xã hội có rất nhiều tính năng như chat, email, chia sẻ thông tin cá nhân, hình ảnh, video, trao đổi mua bán,…Trang mạng xã hội đầu tiên ra đời vào khoảng năm 1995, đó là Classmate, với mục đích đơn giản chỉ là kết nối bạn học với nhau; tiếp theo là sự xuất hiện của SixDegrees vào khoảng năm 1997, với mục đích giao lưu kết bạn với những người cùng sở thích. Năm 2004, MySpace ra đời với nhiều tính năng hơn, nổi bật tại thời điểm đó là chia sẻ phim ảnh. Đến năm 2006, sự phát triển vượt bậc của Facebook đánh dấu bước ngoặt mới cho sự phát triển của hệ thống mạng xã hội trực tuyến (Theo Wikipedia, cập nhật ngày 4/10/2014).
Theo thống kê mới nhất đã công bố của Facebook vào tháng 2/2014 mới đây, số lượng người dùng mạng xã hội này đã đạt con số 1.23 tỷ người, trở thành mạng xã hội phổ biến nhất trên thế giới. Tại Việt Nam, bên cạnh Facebook thì hiện nay một số trang mạng xã hội khác cũng được cư dân mạng đặc biệt quan tâm có thể kể đến như là: Zing.vn, Google Plus, LinkedIn, Twitter,…. Từ khi mạng xã hội ra đời, nó đã tạo ra nhiều thay đổi trong cách thức kết nối giữa các cá nhân với nhau và đã trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống hàng ngày của các cư dân mạng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng đó, một loạt những nghiên cứu xoay quanh vấn đề về thói quen và việc sử dụng mạng xã hội cũng được thực hiện ngày càng nhiều.
Chẳng hạn như nghiên cứu của Ellison và cộng sự (2007) về những vấn đề liên quan đến tính riêng tư và quyền công bố những thông tin nhạy cảm trên Facebook; hay một số nghiên cứu khác của Butt & Phillips (2008) phân tích những đặc điểm tính cách như hướng nội, hướng ngoại đóng vai trò tác động đến việc sử dụng mạng xã hội như thế nào. 6 Năm 2009, Ross và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về mối liên hệ giữa đặc điểm tính cách và năng lực cá nhân ảnh hưởng như thế nào tới việc sử dụng Facebook. Nghiên cứu dựa vào mô hình đặc điểm 5 tính cách (Five-Factor Models) của McCrae (1992) và những yếu tố thuộc về năng lực truyền thông dựa vào máy tính (Computer Mediated Communication (CMC) Competence) của Spitzberg (2006) để đưa ra kết quả về mối liên hệ giữa năng lực truyền thông dựa vào máy tính lên việc sử dụng mạng xã hội Facebook. Nghiên cứu cho thấy, từng đặc điểm tính cách cá nhân sẽ có những tác động khác nhau đến mức độ sử dụng Facebook của cá nhân, cụ thể như sau: 1.
Tính cách hướng ngoại (Extraversion): vì xu hướng tính cách này là hòa đồng nên những cá nhân thiên về đặc điểm tính cách này sẽ sử dụng thường xuyên Facebook để liên lạc và kết bạn với nhiều người. Tính cách tâm lý bất ổn định (Neuroticism): đặc điểm tính cách này mong muốn tìm kiếm được sự chia sẻ của mọi người nên những cá nhân có xu hướng tính cách tâm lý bất ổn định sẽ dành nhiều thời gian trên Facebook để theo dõi và chia sẻ thông tin cá nhân với cộng đồng. Tính cách dễ chịu (Agreeableness): với mong muốn mang lại những sự quan tâm và duy trì những mối quan hệ ý nghĩa, những cá nhân có đặc điểm tính cách này cũng thường xuyên theo dõi Facebook, đặc biệt là họ sẽ có rất nhiều bạn bè trên cộng đồng này. Tính cách sẵn sàng trải nghiệm (Openness to Experience): do xu hướng của tính cách này là tò mò và mong muốn khám phá nhiều điều mới mẻ nên các cá nhân này rất sẵn sàng sử dụng Facebook như một công cụ để giao lưu và tìm kiếm nhiều thông tin hữu ích từ cộng đồng.
Tính cách tận tâm (Conscientiousness): những cá nhân có tính cách này thường mong muốn đảm bảo tiến độ công việc và rất có trách nhiệm với những yêu cầu được giao, do đó họ có xu hướng rất hạn chế sử dụng Facebook để tránh ảnh hưởng đến kế hoạch của bản thân. Đối với năng lực về truyền thông dựa vào máy tính (CMC Competency), Spitzberg đề xuất ba thành phần để đánh giá năng lực này đó là: 7 1. Động cơ về truyền thông dựa vào máy tính (CMC Motivation): Lý do thúc đẩy các cá nhân sử dụng các phương tiện truyền thông máy tính để giao tiếp, ví dụ như sự tiện lợi, nhu cầu giải trí, học tập, làm việc, kết nối bạn bè, chia sẻ thông tin… 2. Kiến thức về truyền thông dựa vào máy tính (CMC Knowledge): Sự hiểu biết, mức độ am hiểu của cá nhân đối với các phương tiện truyền thông máy tính.
Kỹ năng về truyền thông dựa vào máy tính (CMC Skill): Khả năng vận dụng kiến thức đã có để thực hành trên các phương tiện truyền thông máy tính. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Ross và cộng sự chỉ đề cập duy nhất thành phần CMC Motivation và đưa ra nhận định rằng những cá nhân có động cơ về truyền thông dựa vào máy tính càng cao thì càng dành nhiều thời gian sử dụng Facebook mỗi ngày. Do đó, đề tài này sẽ tiếp tục phát triển từ nghiên cứu của Ross để xem xét sự tác động của cả ba thành phần liên quan đến năng lực về truyền thông dựa vào máy tính đối với việc sử dụng mạng xã hội.2 Vốn xã hội (Social Capital) Vốn xã hội được quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn khác như vốn kinh tế, vốn văn hoá, vốn con người. Chữ “vốn” trong cụm từ “vốn xã hội” làm liên tưởng đến giá trị kinh tế, như vậy thì vai trò của nó trong tiến trình phát triển là hết sức cần thiết bởi lẽ nếu đã là một loại vốn thì như bao loại vốn khác, nó cần phải được tích lũy để mang lại lợi ích cho cộng đồng.
Nghiên cứu về ý niệm “vốn xã hội” đã bắt đầu khởi nguồn một cách chính thống từ Bourdieu, nhà xã hội học và triết học người Pháp, vào những năm 1986. Vốn xã hội trong hệ tư tưởng của Bourdieu là toàn bộ nguồn lực (thực tế hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp (chẳng hạn thành viên của cùng một tôn giáo, quê quán, đồng môn), mạng lưới này đã có từ lâu đời và nhờ nó mà những cá nhân, gia đình hay tập thể nào càng có nhiều móc nối thì càng có ưu thế. Nói cách khác, mạng lưới này có giá trị sử dụng, do đó nó là một loại “vốn”., 2003) 8 Khái niệm về vốn xã hội được đặc biệt quan tâm trong nhiều năm trở lại đây, đặc biệt là từ sau những nghiên cứu của Putnam năm 2000 về vấn đề cộng đồng tính. Trong bài nghiên cứu về “Sự sụp đổ và hồi sinh của cộng đồng người Mỹ” (Collapse and Revival of American community), Putnam định nghĩa vốn xã hội là sự kết nối giữa các cá nhân, tức là những mạng lưới xã hội (social networks) và những quy tắc của việc tương tác giúp đỡ lẫn nhau (norms of reciprocity) để giải quyết những vấn đề chung của cộng đồng, từ đó nâng cao giá trị của sự tin cẩn trong xã hội (trustworthiness).
Bên cạnh đó, còn có nhiều định nghĩa khác nhau về vốn xã hội của các nhà nghiên cứu khác, nhưng cho dù là định nghĩa như thế nào thì vốn xã hội cũng được xem như là một nguồn lực cần phải được tích lũy và sự phát triển của nó phải gắn liền với cộng đồng mà nó hướng tới. Do đó, đề tài sẽ tập trung vào các yếu tố của vốn xã hội theo nghiên cứu của Putnam để đánh giá vai trò của mạng xã hội đối với việc phát triển loại vốn này, đó là ba yếu tố: kết nối xã hội (Social connections), sự tương tác qua lại (Reciprocity) và sự tin cậy (Trust) 2.1 Kết nối xã hội (Social connections) Không có mạng lưới để các cá nhân giao tiếp, kết nối với nhau thì không thể hình thành nên vốn xã hội, do đó kết nối xã hội chính là yếu tố nền tảng và quan trọng của việc hình thành nên loại vốn đặc biệt này. Trong những nghiên cứu của mình, Putnam phân biệt hai loại vốn xã hội: vốn xã hội “co cụm” vào trong (bonding social capital) và vốn xã hội “vươn” ra ngoài (bridging social capital). Trong đó, vốn xã hội co cụm thường tồn tại trong các nhóm, cộng đồng hoặc những cá nhân có những đặc điểm tương đồng, loại vốn này hỗ trợ tốt cho những tình huống mà các nhóm cá nhân muốn duy trì tình hình hiện tại, không thích thay đổi và biến động.
Trái lại, loại vốn xã hội vươn ra ngoài tồn tại trong những quan hệ xã hội giữa các cá nhân vượt ra bên ngoài giới hạn các nhóm, cộng đồng đồng nhất, loại vốn này thích hợp cho những cá nhân muốn vươn lên phía trước và mở rộng nhiều mối quan hệ với bên ngoài.